|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày: 20/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo, ông Dương Thanh Cảnh
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 22/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1989, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Hứa Thị H1; có vợ Nguyễn Thị H2 và 02 con (sinh năm 2010 và 2021); tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh N, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Lê Minh T, sinh năm 1977. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- - Chị Lê Thị Tú A, sinh năm 1986. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- - Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1960. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Ông Lê Hồng Q, sinh năm 1960. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Lê Thị Tú A và bà Nguyễn Thị C1, ông Lê Hồng Q: Ông Nguyễn Cao T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: xóm N, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người làm chứng:
- - Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1988. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Anh Võ Văn Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Anh Lê Hoàng A1, sinh năm 1984. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Anh Lê Văn H3, sinh năm 1994. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1961. Địa chỉ: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 27/9/2023, Nguyễn Văn H đến nhà anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1993 tại xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An để dự lễ chẵn tháng con gái của anh T2. Lê Minh T, sinh năm 1977 (cùng xóm) đến sau tham gia uống rượu cùng với mọi người. Sau đó, T ra về trước. Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, H ra về. Khi H về đến cổng nhà của mình thì thấy anh T đang đứng trước cổng, T yêu cầu H xuống xe để nói chuyện. H vừa xuống xe thì bị T dùng tay bóp cổ H. H gọi chị Nguyễn Thị H2 (là vợ của H) ra. Chị H2 nghe thấy có tiếng nói ở ngoài cổng của nhà mình nên đã ra xem, khi lại gần thì phát hiện ra H và T đang vật lộn nhau trước cổng, H nằm ngửa giữa đường, T ngồi trên người của H, hai tay cầm ghì chiếc gậy trên ngực của H. Thấy vậy, chị H2 liền chạy lại can ngăn và giằng lấy gậy quăng đi nên T và H không vật lộn nhau nữa và hai người nằm ngửa ra giữa đường, H gối đầu trên bụng của T rồi cùng nhau nằm nói chuyện. Do thấy đêm đã khuya, biết H và T đều đã uống rượu nên chị H2 nói hai người đứng dậy để về ngủ. H ngồi dậy và nói chị H2 dựng xe máy của T lên (xe máy của T đang để ngã bên bờ rào gần nơi H và T nằm) để T về. Chị H2 lấy dép đưa cho T đi, dựng và quay xe máy để T về. Sau đó, chị H2 và H đi vào nhà của mình, còn T không về nhà mà lại đi theo vợ chồng chị H2 vào nhà. Khi H vào nhà bếp, T cũng đi theo vào và đứng sát phía cửa ra vào bếp, H lấy chai nước mát trong tủ lạnh đưa cho T uống. Sau đó, H quỳ xuống nền nhà bếp để xin T được đi ngủ nhưng T không cho. T đứng đối diện và dùng 01 tay bóp cổ của H đau nên H lấy tay của mình gạt tay của T ra và đứng dậy chạy lại nơi kệ để dao thường ngày của gia đình lấy 01 con dao nhọn có kích thước 31,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 19,5cm, phần rộng nhất của lưỡi dao làm bằng nhựa màu đen dài 12cm rồi chạy lại đứng đối diện T với khoảng cách khoảng 01 mét, H cầm dao bằng tay phải đâm 01 nhát vào vùng bụng của T rồi rút dao ra và thả dao dưới nền nhà bếp. Lúc này, chị H2 đang đứng ngoài sân và thấy T thụt lùi lại từ cửa bếp theo hướng ra sân, vùng bụng của T chảy nhiều máu, trên tay của H đang cầm 01 con dao nhọn. Chị H2 lấy 01 chiếc quần bịt vết thương lại cho T. T ngã gục ngay tại trước cửa bếp. Chị H2 liền gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1988, trú tại xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An cho biết việc H đã đâm T tại nhà của mình và nhờ anh N đến đưa T đi cấp cứu. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/09/2023, T tử vong tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa tỉnh N. Khi mọi người đưa anh Lê Minh T đi cấp cứu thì chị H2 nhặt con dao đi rửa sạch vết máu và để trên nóc tủ lạnh và lau sạch máu ở khu vực hiện trường.
Đến 01 giờ 45 phút cùng ngày 28/9/2023, Nguyễn Văn H đến cơ quan Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 28/9/2023 thể hiện các dấu vết, tổn thương trên cơ thể anh Lê Minh T như sau:
- Hố mắt trái bị xây xát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (6 x 4,3)cm.
- Gò má phải bị bầm tụ máu kích thước (4 x 1,5)cm.
- Vùng cổ phía bên phải cách đường giữa cổ 4cm, cách dưới dái tai phải 12cm có 01 vết bầm tụ máu, xây xát đứt thủng da đường kính 0,1cm.
- Ngay mỏm vai trái bị sưng, phù nề, xây xát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (11 x 0,5)cm.
- Mu bàn tay trái, cách thẳng trên gốc ngón 4 là 06cm có 01 vết xây xát da bầm tụ máu kích thước (5 x 2,2)cm.
- 1/3 trên ngoài cánh tay trái có 01 vết xây xát da, bầm tụ máu kích thước (0,7 x 0,2)cm.
- Vùng bụng phía bên trái, cách đường trắng giữa bụng 6cm, cách dưới trong núm vú trái 15cm có 01 vết thương kích thước (2,2 x 0,6)cm; rìa và thành vết thương đứt gọn, bầm tụ máu; hướng từ trước ra sau, trái sang phải, dưới lên trên.
- Ngay đầu gối phải bị xây xát da bầm tụ máu không liên tục kích thước (0,5 x 4,5)cm.
- Mặt sau cổ tay phải, cách thẳng trên gốc ngón 3 là 9,5cm trên đường đi của mạch máu có 01 vết đứt thủng da dạng kim tiêm chuyền đường kính 0,1cm.
- Bả vai trái cách đường giữa cột sống 15 cm, cách dưới bả vai 06cm có 01 vùng xây xát da, bầm tụ máu không liên tục kích thước (6,5 x 3,5)cm.
- Bả vai phải, cách đường giữa cột sống 13,5cm; cách dưới bờ vai 06cm có 01 vết thương kích thước (3 x 0,6)cm, rìa và thành vết thương đứt gọn; hướng từ sau ra trước, ngay sát đầu dưới vết thương có 01 vết xây xát da, rách da, bầm tụ máu kích thước (1,2 x 0,3) cm.
* Mổ tử thi:
- Đầu: Tổ chức dưới da không bị bầm tụ máu, xương hộp sọ không bị nứt, vỡ.
- Ngực, bụng: Tổ chức dưới da tương ứng vết thương vùng bụng bị bầm tụ máu nặng, xương ức và các xương sườn hai bên không bị gãy. Khoang lồng ngực, bao tim không có máu. Tim, phổi, gan, thận nhạt màu. Ô bụng chứa khoảng 2000ml máu đông và không đông. Mạc nối, mạc treo đại tràng, gan bị thủng, gan thận nhạt màu.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 219/KLGĐTT-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
1. Khám nghiệm tử thi:
1.1 Khám ngoài:
- 1.1.3. Tình trạng tử thi: Lạnh, co cứng. Hoen tử thi nhạt màu, xuất hiện phía sau cơ thể.
- 1.1.4. Hố mắt trái bị xây xát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (6 x 4,3)cm.
- 1.1.5. Gò má phải bị bầm tụ máu, kích thước (4 x 1,5)cm.
- 1.1.6. Phía bên phải cổ, cách đường giữa cổ 4cm, cách dưới trước dái tai phải 12cm, có 01 vết bầm tụ máu, xây xát; đứt, thủng da, đường kính 0,1cm (vết đặt catheter của Bệnh viện).
- 1.1.7. Vùng bụng phía bên trái, cách đường trắng giữa 6cm, cách dưới trong núm vú trái 15cm, có 01 vết thương, kích thước (2,2 x 0,6)cm; bờ mép đứt gọn, bầm tụ máu; hướng từ trước ra sau, trái sang phải, dưới lên trên.
- 1.1.8. Bả vai phải, cách đường giữa cột sống 13,5cm, cách dưới bờ vai phải 6cm, có 01 vết thương, kích thước (3 x 0,6)cm; bờ mép đứt gọn, bầm tụ máu; hướng từ sau ra trước. Sát đầu dưới vết thương, có 01 vết xây xát, rách da, bầm tụ máu, kích thước (1,2 x 0,3)cm.
- 1.1.9. Bả vai trái, cách đường giữa cột sống 15cm, cách dưới bờ vai trái 6cm, có 01 vùng xây xát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (6,5 x 3,5)cm.
- 1.1.10. Ngay mỏm vai trái bị xây xát da, sưng phù nề, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (11 x 0,5)cm.
- 1.1.11. 1/3 trên, ngoài cánh tay trái, có 01 vết xây xát da, bầm tụ máu, kích thước (0,7 x 0,2)cm.
- 1.1.12. Mu bàn tay trái, cách thẳng trên gốc ngón IV là 6cm, có 01 vết xây xát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (5 x 2,2)cm.
- 1.1.13. Mặt sau cổ tay phải, cách thẳng trên gốc ngón III là 9,5cm, trên mạch máu, có 01 vết đứt, thủng da, bầm tụ máu, đường kính 0,1cm (dạng vết tiêm truyền).
- 1.1.14. Đầu gối phải bị xây xát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (6,5 x 4,5)cm. Tất cà các dấu vết được mô tả trên có hình không xác định.
1.2. Khám trong:
- * Đầu:
- - Tổ chức dưới da không bị bầm tụ máu.
- - Xương hộp sọ không bị nứt, vỡ.
- * Ngực – Bụng:
- - Tương ứng với vết thương mục 1.1.7 (phần khám ngoài): Tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng; gan, mạc nối lớn, mạc treo đại tràng bị thủng.
- - Xương ức, xương sườn không bị gãy.
- - Hai khoang lồng ngực, bao tim không có máu. Tim, phổi nhạt màu, không có tổn thương.
- - Ở bụng chứa khoảng 2000ml máu đông và không đông.
- - Gan, thận nhạt màu.
KẾT LUẬN:
“...1. Các kết quả chính:
- Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, rách da, sưng phù nề, bầm tụ máu.
- Áo thấm ướt nhiều máu. Hoen tử thi nhạt màu, xuất hiện phía sau cơ thể.
- Tim, phổi, gan, thận nhạt màu.
- Ô bụng chứa khoảng 2000ml máu đông và không đông.
- Gan, mạc nối lớn, mạc treo đại tràng bị thủng.
- 2. Kết luận nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu bụng làm thủng gan, mạc nối lớn và mạc treo đại tràng.
Tại Bản kết luận giám định số 33/KL-KTHS (Đ2 - SV) ngày 15/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- “- Mẫu máu tử thi Lê Minh T gửi đến giám định thuộc nhóm máu 'O'.
- - 02 (hai) mẫu chất màu nâu nghi máu thu khi khám nghiệm hiện trường ngày 28/9/2023 ở vị trí số 01 và số 02 gửi đến giám định đều là máu người, thuộc nhóm máu 'O'.
- - Trên con dao do Nguyễn Văn H giao nộp ngày 28/9/2023 gửi đến giám định không phát hiện dấu vết máu người”.
Tại Công văn số 45/BL-KTHS (Đ2-PY) ngày 17/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh N về việc biện luận dấu vết trên cơ thể anh Lê Minh T như sau:
“1. Vết thương được mô tả tại mục 1.1.7 trong kết luận giám định tử thi số 219/KLGĐTT-KTHS, đề ngày 03/10/2023 của phòng K Công an tỉnh N là do sự tác dộng giữa vật sắc nhọn và cơ thể Lê Minh T tạo nên. Và việc sử dụng dao có kích thước dài 31,5cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 19,5cm, nơi rộng nhất 2,5cm, mũi dao nhọn; cán dao làm bằng nhựa màu đen dài 12cm (gửi biện luận) tác động vào Lê Minh T thì cũng tạo nên được vệt thương có dặc diểm như đã mô tả tại mục 1.1.7 trong kết luận giám định tử thi số: 219/KLGĐTT-KTHS, đề ngày 03/10/2023 của phòng K Công an tỉnh N.
2. Vết thương dược mô tả tại mục 1.1.8 trong kết luận giám dịnh tử thi số 219/KLGĐTT-KTHS, đề ngày 03/10/2023 của phòng K Công an tỉnh N là do sự tác động giữa vật sắc và cơ thể Lê Minh T tạo nên.Và dao có kích thước dài 31,5cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 19,5cm, nơi rộng nhất 2,5cm, mũi dao nhọn; cán dao làm bằng nhựa màu đen dài 12cm (gửi biện luận) tác động vào Lê Minh T thì cũng tạo nên dược vết thương có dặc diểm như đã mô tả tại mục 1.1.8 trong kết luận giám định tử thi số: 219/KLGĐTT-KTHS, đề ngày 03/10/2023 của phòng K Công an tỉnh N.”
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Văn H ngày 28/9/2023 thể hiện: Ở vùng cổ bên phải có một vết trầy xước da, kích thước (03 x 02) cm, xung quanh vết thương có vùng tấy đỏ kích thước (06 x 04)cm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành thực nghiệm điều tra. Nguyễn Văn H đã diễn tả lại hành vi H dùng dao đâm anh Lê Minh T, phù hợp với lời khai và các chứng cứ khác. Chị Nguyễn Thị H2 đã diễn tả lại việc chứng kiến của mình đối với hành vi của H và anh T.
* Về vật chứng vụ án gồm:
- 01 (một) con dao nhọn kích thước dài 31,5 cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 19,5 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao có kích thước 2,5 cm, phần cán dao làm bằng nhựa màu đen dài 12 cm;
- 01 (một) đoạn tre có tổng chiều dài 92 cm, đường kính 3,5 cm; một đầu của đoạn tre bị tước một phần (Đã qua sử dụng).
- 01 (một) đôi dép da màu đen dài 27,5 cm; rộng nhất là 11,5 cm. Dép có bám dính nhiều đất bẩn;
- 01 (một) chiếc áo phông ngắn tay màu vàng.
* Về dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 200.000.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 119/CT-VKSNA-P2 ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 đến 10 năm tù về tội “Giết người”. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng thu giữ. Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các quyết định và hành vi tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm tử thi; biên bản thực nghiệm điều tra; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 27/9/2023, tại nhà bếp của gia đình Nguyễn Văn H thuộc xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Do bực tức với anh Lê Minh T trong việc đến nhà vào đêm khuya gây sự và dùng tay bóp cổ của mình bị đau nên Nguyễn Văn H đã lấy 01 (một) con dao nhọn đâm 01 nhát trúng vào vùng bụng phía bên trái của anh T làm anh T chết. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi, tính chất phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì bực tức anh T đến nhà vào đêm khuya, dùng tay bóp cổ bị cáo mà bị cáo đã dùng dao tước đoạt tính mạng của anh Lê Minh T. Hành vi tước đoạt quyền được sống của anh Lê Minh T không những gây tổn thất, mất mát và đau thương đặc biệt lớn cho gia đình bị hại mà còn ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; có nhân thân tốt, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; có bố Nguyễn Văn C (Nguyễn Phi C2) và mẹ Hứa Thị H1 có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[5] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn H, thấy rằng: mặc dù bị hại anh Lê Minh T có hành vi trái pháp luật bóp cổ bị cáo nhưng chưa đến mức làm cho bị cáo bị kích động về tinh thần. Vì vậy, không có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
[7] Về vật chứng: 01 con dao nhọn, 01 đoạn tre là công cụ, phương tiện phạm tội; 01 đôi dép da, 01 chiếc áo phông không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Trong vụ án này, tại biên bản khám nghiệm tử thi, các dấu vết, tổn thương trên cơ thể anh Lê Minh T còn thể hiện 01 vết thương tại bả vai phải, cách đường giữa cột sống 13,5cm; cách dưới bờ vai 06cm có 01 vết thương kích thước (3 x 0,6)cm, rìa và thành vết thương đứt gọn; hướng từ sau ra trước, ngay sát đầu dưới vết thương có 01 vết xây xát da, rách da, bầm tụ máu kích thước (1,2 x 0,3)cm. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H chỉ khai nhận dùng dao đâm anh Lê Minh T 01 nhát; chị Nguyễn Thị H2 không thấy việc H đâm anh T như thế nào, trước khi H đâm T ở gian nhà bếp, H và T có vật lộn nhau trước cổng... nên chưa đủ căn cứ xác định vết thương này do ai hay vật gì gây nên.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 10 (M1) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 28/9/2023.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn, 01 đoạn tre, 01 đôi dép da, 01 chiếc áo phông.
Đặc điểm, tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Nguyễn Thị Thu Từ |
10
11
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (giết người)
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H - giết người
