|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-PT Ngày: 03/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông
Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024.
* Bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị G, sinh năm 1975; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1948 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị S, sinh năm 1950; Chồng: Nguyễn Quang Đ1, sinh năm 1971; Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023 đến ngày 03/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cứ trú, hiện tại ngoại. (có mặt)
2. Họ và tên: Hoàng Văn Đ, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Hoàng Văn N, sinh năm 1973; Con bà: Nguyễn Thị
1
M1, sinh năm 1978; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 2005; Bị cáo có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2023 đến ngày 05/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cứ trú, hiện tại ngoại. (có mặt)
* Bị hại: Chị Mùa Thị C, sinh ngày 07/3/2006. Địa chỉ: Bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Thân Văn D1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
Người giám hộ của chị Mùa Thị C:
- Ông Mùa A C1, sinh năm 1977. Địa chỉ: thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
- Bà Võ Thành L. Chức vụ: Chủ tịch Hội phụ nữ phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Ông Lù Văn D2, sinh năm 1993. Bí Thư Đoàn Trường dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên. (vắng mặt)
* Ngoài ra trong vụ án có 02 bị cáo khác nhưng không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Mùa Thị C, sinh ngày 07/3/2006, trú tại Bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên là học sinh trường Trung học phổ thông N1 thuộc huyện N, tỉnh Điện Biên. Ngày 04/8/2023, chị C đăng nhập vào mạng xã hội Facebook tìm việc làm thêm trong thời gian nghỉ hè để có thêm thu nhập phục vụ việc học. Sau đó, chị C được người đàn ông có nick Facebook “Trang Thu” (chị C không biết tên tuổi, địa chỉ người này) đồng ý nhận và đón chị C về một ngôi nhà ở quận N, thành phố Hà Nội (không rõ địa chỉ cụ thể) để đợi đi làm nhân viên rót bia, bấm bài cho khách hát tại quán karaoke. Trong thời gian trên, Hoàng Văn Đ, sinh năm 2003, trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người chuyên cung cấp nhân viên phục vụ quán hát karaoke trên địa bàn huyện L, tỉnh Bắc Giang thấy tài khoản Z “Nguyễn Đức B” của người không quen biết giới thiệu có nhân viên muốn đi làm. Đại liên lạc với người có tài khoản Zalo “Nguyễn Đức B” để tuyển nhân viên thì người này hẹn gặp Đ tại quận N, thành phố Hà Nội để đón nhân viên về làm. Ngày 04/8/2023, Đ đến điểm hẹn gặp người có tên Z “Nguyễn Đức B” thì gặp chị C đang ở cùng người này (chị C xưng tên là H). Lúc này, Đ có hỏi chị C có đồng ý về làm với Đ không thì chị C đồng ý. Sau đó, Đ trả cho người đàn ông dùng tài khoản Zalo “Nguyễn Đức B” 13.000.000đồng là tiền công ứng trước và tiền chị C nợ người này trước đó rồi đưa chị C về ở tại nhà trọ Đại thuê
2
của ông Hồ Ngọc T1, sinh năm 1954 ở tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang để đi làm nhân viên quán hát. Tại đây, chị C mua chịu của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO với giá 1.500.000đồng để làm phương tiện liên lạc. Ngày 10/8/2023, chị C không muốn làm việc với Đ nữa, nên Đ đưa chị C đến làm việc cho Nguyễn Thị G, sinh năm 1975 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang là chủ quán quán karaoke “Phố Chùa” ở thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, G trả cho Đ 15.000.000 đồng là tiền Cú nợ Đ trước đó rồi bố trí cho C ăn ở cùng các nhân viên khác tại quán karaoke “Phố Chùa” của G. Chi phí ăn ở do G chi trả, tiền công làm việc hàng ngày của C thì G tính trừ vào số tiền G trả nợ Cú thay cho Đ. Cú làm việc cho G đến rạng sáng ngày 27/8/2023 thì không muốn làm nữa, muốn về nhà để tiếp tục đi học nên C tự bỏ đi khỏi quán karaoke “Phố Chùa” để tìm cách bắt xe về quê. Khoảng 10 giờ ngày 27/8/2023, G không thấy C ở quán, cho rằng C đã bỏ đi, không trả số tiền còn lại mà G đã trả cho Đ thay Cú nên G đã bảo Hoàng Văn Đại cùng Nguyễn Quang H1, sinh năm 2002 (là con đẻ của G) và Nguyễn Quang C2, sinh năm 2002 cùng trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi tìm bắt C đưa về quán karaoke “Phố Chùa” để tiếp tục làm việc cho G. Sau đó, Nguyễn Quang H1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Laceitti, biển kiểm soát 98A-004.87 của G chở Đ và C2 cùng đi tìm bắt Cú. Đến buổi chiều cùng ngày, qua hình ảnh và tin nhắn trên mạng xã hội Facebook của Cú với những người khác, G phát hiện Cú đang ở khu vực thị trấn B, huyện V nên thông báo cho H1, Đ, Cao biết. Sau đó, H1, Đ, C2 cùng nhau đi đến huyện V tìm bắt cháu C. Khoảng 16 giờ cùng ngày 27/8/2023, khi cháu C đang ngồi trong quán nước của anh Nguyễn Vũ H2, sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang để uống nước, bắt xe về quê thì H1, Đ, Cao tìm thấy. Đ xuống xe ô tô đi đến vị trí của C giằng chiếc điện thoại di động của C đang cầm ở tay để không cho C liên lạc với người khác. Đ yêu cầu C “Lên xe đi về” thì C nói “Không về”, Đ dùng tay phải tát một cái vào má trái của C, bắt C phải lên xe đi về quán karaoke “Phố Chùa”. Cú không đồng ý, dùng hai tay ôm vào gốc cây cạnh quán nước thì H1, Cao đi đến, mỗi người cầm một tay Cú rồi rằng kéo tay C khỏi gốc cây để đưa lên xe ô tô. Giằng được tay, C tiếp tục giãy giụa chân tay để không đưa được lên xe ô tô. Lúc này, H1, C2 tiếp tục cầm tay kéo, còn Đ dùng tay đẩy người cháu C, đưa cháu C lên hàng ghế thứ hai trên xe ô tô. Sau đó, Đ, Cao mỗi người ngồi một bên cạnh C còn H1 điều khiển xe ô tô đưa Cú về quán karaoke “Phố Chùa”. Khi bắt C về tới quán karaoke “Phố Chùa”, Đ, H1, C2 đưa C vào gặp G, đồng thời Đại đưa điện thoại di động của C cho G cầm rồi G để tại mặt quầy ở tầng 1 của quán nhằm không cho C liên lạc với người khác, lúc này C tự đi vào phòng ngủ của nhân viên trong quán nằm nghỉ.
Ngày 28/8/2023, anh Nguyễn Vũ H2 có đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V về việc C đang ngồi ở quán của anh H2 thì bị các đối tượng bắt đưa đi. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Công an huyện L tiến hành kiểm tra quán karaoke “Phố Chùa”, lúc này C tiếp tục trình báo bị G cùng các đối tượng có liên quan bắt ở quán nước của anh H2 rồi đưa về quán karaoke.
3
Cùng ngày 28/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V triệu tập Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Quang H1, Nguyễn Quang C2 đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Quang H1 và Nguyễn Quang C2 đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Khi đầu thú, Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Thị G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra, màu nâu, lắp 02 sim số 0364.220.846 và 0988.237.197; Nguyễn Quang H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Lote 20 Ultra 5G, màu gold, lắp sim số 0356.969.426; Nguyễn Quang C2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus; Hoàng Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh rêu, lắp sim số 0385.188.283.
Ngày 29/8/2023, anh Nguyễn Quang Đ1, sinh năm 1971 là chồng của Nguyễn Thị G đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet biển kiểm soát 98A-044.87.
Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V tiến hành kiểm tra điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, phát hiện: trong điện thoại di động của G, Đ, C2, H3 có cuộc gọi liên lạc với nhau khi đi bắt chị C; trong điện thoại của H1, C2 có tin nhắn video thể hiện có tài khoản Zalo của người không quen biết gửi tin nhắn video ghi lại việc các bị cáo bắt chị C vào ngày 27/8/2023 cho C2 rồi C2 gửi cho H1.
Ngày 28/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Hoàng Văn Đ, Nguyễn Quang H1 và Nguyễn Quang C2 xem lại đoạn video thu giữ trong điện thoại di động của C2. Kết quả Đ, H1 và C2 đều xác định người trong video có hành vi bắt chị C lên xe ô tô ngày 27/8/2023 tại thị trấn B, huyện V là các bị cáo.
Ngày 31/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho chị Mùa Thị C nhận dạng qua hình ảnh đối với Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Quang H1 và Nguyễn Quang C2. Kết quả: Chị C nhận dạng được G, Đ, H1 và C2 là người có hành vi bắt chị C.
Hành vi Hoàng Văn Đ cầm điện thoại di động của chị C khi bắt chị C. Khi về quán, Đ đã đưa lại chiếc điện thoại di động của chị C cho G rồi G để ở bàn quầy tại quán karaoke “Phố Chùa”, sau đó không rõ ai cất đi. Hành vi trên của G và Đ nhằm không cho chị C liên lạc với người khác, không có mục đích chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị C nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Hành vi Hoàng Văn Đ dùng tay tát chị C nhưng chị C không bị thương tích gì.
Đối với ông Nguyễn Quang Đ1 là chồng của Nguyễn Thị G, không biết và không giúp sức cho các bị cáo thực hiện hành vi bắt chị C nên không vi phạm pháp luật.
Đối với các hành vi: Hoàng Văn Đ đưa tiền cho người khác để đưa chị C từ thành phố Hà Nội về làm việc cho Đ; hành vi của G đưa tiền cho Đại để đưa chị C về làm việc cho G có dấu hiệu của tội mua bán người. Do không thuộc thẩm quyền giải quyết nên ngày 26/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an
4
huyện V đã ra quyết định tách hành vi trên và chuyển tài liệu có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra xác định xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Quang Đ1; điện thoại di động là tài sản của cá nhân các bị cáo nhưng đều dùng vào việc phạm tội. Toàn bộ số vật chứng nêu trên, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: chị Mùa Thị C không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì.
* Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
1. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023 đến ngày 03/9/2023.
2. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Bộ luật hình sự. Xử phạt Hoàng Văn Đ 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2023 đến ngày 05/02/2024.
Ngoài ra bản án còn xử phạt đối với 2 bị cáo khác, xử lý vật chứng giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Ngày 11/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 04/3/2024 bị cáo Hoàng Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
* Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ rút yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo.
Bị cáo G trình bày: Bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế, chỉ vị bị hại còn nợ tiền bị cáo nên bị cáo muốn đưa bị hại về để cho bị hại trả nợ cho bị cáo. Khi các bị cáo khác đưa C về quán của bị cáo, bị cáo không đánh đập gì và cũng để bị hại tự do đi lại và sinh hoạt chung trong nhà. Bị cáo ân hận về việc làm của mình. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã đến tiếp tục xin lỗi bị hại và bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị S được tặng danh hiệu huân chương kháng chiến hạng nhất, có ông nội là Nguyễn Văn T2 được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống pháp hạng hai. Bị cáo sống ở địa phương luôn chấp hành tối các chính sách pháp luật không vi phạm gì.
Bị cáo Đ trình bày: Bị cáo biết việc làm của mình là sai, do bị hại còn nợ bị cáo G nên bị cáo G bảo bị cáo đi đón C về, bị cáo đã thực hiện hành vi bắt C lên
5
xe và đưa bị hại về quán của bị cáo G. Bị cáo nhận thức việc là của mình là sai trái do không hiểu biết pháp luật. Bị cáo có ông nội được tặng huân chương kháng chiến chống Pháp hạng hai. Tham gia ủng hộ quỹ xóa nhà tạm, nhà dột của địa phương. Quá trình sống ở địa phương luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, là gia đình văn hóa, tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 02 năm 06 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 02 năm 04 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thửa thách đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật
* Các bị cáo không có quan điểm tranh luận gì.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại tranh luận: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ân hận về việc mình đã làm, người bị hại tại phiên tòa phúc thẩm có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo G. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
* Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ HĐXX thấy: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Rạng sáng ngày 27/8/2023, cháu Mùa Thị C, sinh ngày 07/3/2006, trú tại Bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên đang làm nhân viên tại quán karaoke “Phố Chùa” ở thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang do Nguyễn Thị G làm chủ đã tự bỏ đi khỏi quán để bắt xe về quê. Lúc này, G cho rằng cháu C bỏ trốn, không trả số tiền nợ G trước đó nên bảo Nguyễn Quang H1 cùng Hoàng Văn Đ, Nguyễn Quang C2 cùng nhau điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Laceitti, biển kiểm soát 98A-004.87 đi tìm bắt cháu C về quán để làm việc trừ nợ. Khoảng 16 giờ ngày 27/8/2023, Đ, H1, C2 phát hiện cháu C đang ngồi ở trong quán nước tại tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang để đợi bắt xe về quê, nên bảo cháu C đi về quán karaoke “Phố Chùa” nhưng cháu C không đồng ý. Lúc này, Đ dùng tay tát vào má rồi cùng H1, C2 dùng tay du đẩy, lôi kéo ép cháu C lên xe ô tô đưa về quán karaoke “Phố Chùa” theo yêu cầu của G.
6
Như vậy các bị cáo có hành vi không cho bị hại Cú di chuyển vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình, bắt Mùa Thị C tại quán nước tại tổ dân phố B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Dùng sức mạnh về vật chất như Đ dùng tay tát vào má của C rồi cùng C2, Hưng du đẩy, lôi, kéo ép C lên xe ô tô rồi đưa đến quán karaoke “Phố Chùa” theo yêu cầu của G. Như vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo G, Đ xác định Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng người đúng tội, không oan.
Tại phiên tòa, bị cáo G, Đ chỉ xin hưởng án treo nên các vấn đề khác của bản án sơ thẩm đã tuyên về tội danh, điều luật áp dụng, phạt bổ sung. án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
[2]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo HĐXX thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo xác định hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền tự do của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 02 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 02 năm 04 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” là đúng người, đúng tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị G xuất trình cho Hội đồng xét xử các tài liệu mới, khác so với phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị S được tặng danh hiệu huân chương kháng chiến hạng nhất, có ông nội là Nguyễn Văn T2 được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống pháp hạng hai. Bị cáo sống ở địa phương luôn chấp hành tối các chính sách pháp luật không vi phạm gì. Sau khi xét xử sơ thẩm người bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo Hoàng Văn Đ có ông nội là Hoàng Đức C3 được tặng huân chương kháng chiến chống Pháp hạng hai. Tham gia ủng hộ quỹ xóa nhà tạm, nhà dột của địa phương. Quá trình sống ở địa phương luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, là gia đình văn hóa, tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm.
Do vậy cần áp dụng cho các bị cáo G, Đ thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là sai trái, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện, trong vụ án này cũng có một phần lỗi của người bị hại, các bị cáo xuất trình được thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có địa chỉ cư trú rõ ràng, việc không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của
7
Nhà nước, không cần bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo là phù hợp hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
[3]. Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ. Sửa bản án thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo nhận định đã nêu ở trên.
[4]. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận căn cứ quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo G, Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị G và bị cáo Hoàng Văn Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Văn Đ cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
8
Giao bị cáo Hoàng Văn Đ cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị G, Hoàng Trọng Đ2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
9
Bản án số 107/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về bắt người trái pháp luật (phúc thẩm hình sự)
- Số bản án: 107/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Bắt người trái pháp luật (Phúc thẩm hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giang và Đại phạm tội Bắt giữ người trái pháp luật
