Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-PT

Ngày: 02/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung

Bà Hoàng Thị Nguyệt

Thư ký phiên toà: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Thiều Thị Hương – Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 138/2024/TLPT- HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Lê Đình M và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Lê Đình M - Sinh năm: 1978; trú tại: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc T (đã chết) và bà Đặng Thị T1 (đã chết); có vợ là Hà Thị N và 2 con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 08/4/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  2. Hà Thị N - Sinh năm: 1982; trú tại: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T2 và bà Nguyễn Thị P; có chồng Lê Đình M và 2 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo M và bị cáo N: Luật sư Lê Thị H và Luật sư Trịnh Thị H1 – Công ty L thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

Luật sư Lê Thị H vắng mặt, Luật sư Trịnh Thị H1 có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đều vắng mặt.

  1. Anh Lê Văn H2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Chị Lê Thị Ngọc M1, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Anh Trần Văn Đ, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  5. Chị Lê Thị H3, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Sỹ T3, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/3/2023, anh Nguyễn Ngọc M2 ở thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có đơn tố giác hành vi cho vay lãi nặng của Lê Đình M, nên hồi 8h30 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T khám xét khẩn cấp nhà ở của Lê Đình M, thu giữ: 03 quyển sổ học sinh, 02 quyển hóa đơn, 01 giấy bán đất, 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 18 giấy vay tiền, 19 giấy bán xe, căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Lê Văn H2, xe ô tô BKS 36A – 911.19 và số tiền 134.000.000đ, 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng gold, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

Quá trình điều tra xác định từ năm 2018 đến năm 2023 Lê Đình M cho cầm cố tài sản và cho vay tín chấp khoảng hơn 40 người. Người dân khi đến liên hệ cầm cố tài sản để vay tiền, để đảm bảo việc người vay trả nợ, M yêu cầu người vay làm hợp đồng mua bán tài sản. Mức lãi suất M cho vay thường là từ 3.000đ/triệu/ngày đến 5.000đ/triệu/ngày tương đương với mức lãi suất 111,5%/năm đến 347,6%/năm.

Trong đó, những người mà Lê Đình M cắt lãi cao vi phạm pháp luật còn thời hiệu xử lý hình sự có 5 người, gồm: anh Lê Văn H2, anh Nguyễn Văn S, chị Lê Thị Ngọc M1, anh Trần Văn Đ và chị Lê Thị H3, cụ thể như sau:

  1. Anh Lê Văn H2:
    Khoảng 17 giờ ngày 28/3/2023, do có nhu cầu vay vốn nên anh Lê Văn H2 đến nhà Lê Đình M và Hà Thị N ở thôn D, xã H, huyện T để hỏi vay tiền, thì được N và M đồng ý, hai bên thống nhất cho anh H2 vay số tiền là 600.000.000đ, lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay 30 ngày, đồng thời anh H2 phải viết giấy bán xe ô tô BKS 36A – 911.19 với giá 600.000.000đ. Do anh H2 phải cắt lãi trước cho 30 ngày vay là 55.000.000đ nên M dùng tài khoản ngân hàng M3 chuyển đến số tài khoản Ngân hàng M3 0985000333 của H2 số tiền 545.000.000đ. Lãi suất M, N tính với anh H2 là 111,5%/ năm. Gấp 5,58 lần lãi suất 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. T4 lời bất chính số tiền là: 55.000.000đ (lãi thỏa thuận) – 9.863.000₫ (20% lãi theo quy định) = 45.137.000đ.
  2. Anh Trần Văn Đ:
    Ngày 21/3/2023 Lê Đình M cho anh Trần Văn Đ vay số tiền là 40.000.000₫ dưới hình thức viết giấy bán xe ô tô BKS 36A – 279.43 với giá 130.000.000đ rồi cho thuê lại xe ô tô. Thời hạn vay là 15 ngày, lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày, cắt lãi trước 3.000.000đ. Số tiền anh Đ thực nhận của M là 37.000.000đ. Lãi suất M tính với anh Đ là 182,5%/ năm. Gấp 9,1 lần lãi suất 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. T4 lời bất chính số tiền là: 3.000.000đ (lãi thỏa thuận) – 329.000₫ (20% lãi theo quy định) = 2.671.000đ.
  3. Chị Lê Thị Ngọc M1:
    Ngày 07/5/2022, Lê Đình M cho chị Lê Thị Ngọc M1 vay số tiền là 20.000.000đ, thời hạn vay 2 tháng, lãi suất 3.000.000đ/01 tháng, tương đương 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Đến hạn trả chị M1 không có tiền trả tiền gốc cho M nên hàng tháng chị M1 phải trả lãi cho M 3.000.000đ. Tính đến ngày 29/3/2023 là 10 tháng 26 ngày (326 ngày), chị M1 đã trả lãi cho M 33.000.000đ. Lãi suất M tính với chị M1 là 184,7%/ năm. Gấp 9,3 lần lãi suất 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. T4 lời bất chính số tiền là: 33.000.000₫ (lãi thỏa thuận) – 3.573.000₫ (20% lãi theo quy định) = 29.427.000đ.
  4. Anh Nguyễn Văn S:
    Vào giữa năm 2022, Lê Đình M cho anh Nguyễn Văn S vay số tiền là 30.000.000₫ dưới hình thức viết giấy bán xe mô tô. Thời hạn vay là 7 ngày, lãi suất 2.000.000đ. Lãi suất M tính với anh S là 347,6%/ năm. Gấp 17,4 lần lãi suất 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. T4 lời bất chính số tiền là: 2.000.000₫ (lãi thỏa thuận) – 115.000₫ (20% lãi theo quy định) = 1.885.000đ.
  5. Chị Lê Thị H3:
    Lần 1: Ngày 28/7/2022 Lê Đình M cho chị Lê Thị H3 vay số tiền là 100.000.000đ, thời hạn vay là 10 ngày, lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày. Lãi suất M tính với chị H3 là 146%/ năm. Gấp 7,3 lần lãi suất 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. T4 lời bất chính số tiền là: 4.000.000đ (lãi thỏa thuận) – 548.000₫ (20% lãi theo quy định) = 3.452.000đ.
    Lần 2: Tháng 8 năm 2022, Lê Đình M cho chị Lê Thị H3 vay số tiền là 50.000.000đ, lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày. M thu lãi của chị H3 trong thời gian 3 tháng (90 ngày). Lãi suất M tính với chị H3 là 146%/ năm. Gấp 7,3 lần lãi suất 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. T4 lời bất chính số tiền là: 18.000.000₫ (lãi thỏa thuận) – 2.466.000₫ (20% lãi theo quy định) = 15.534.000đ.

Ngày 05/7/2023, anh Lê Văn H2 giao nộp ba đoạn video thể hiện toàn bộ nội dung quá trình thế chấp xe ô tô để vay tiền giữa Lê Đình M, Hà Thị N và anh Lê Văn H2. Ngày 17/8/2023 anh H2 giao nộp số tiền 545.000.000đ cho Cơ quan điều tra.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T trưng cầu phòng K công an tỉnh T giám định đoạn video đã thu giữ. Tại Bản kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 3 tệp video của 01 USB gửi giám định. Trích xuất một số hình ảnh các đối tượng trong các tệp video gửi giám định.

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

  • Ngày 18/8/2023 cơ quan cảnh sát điều ra Công an huyện T đã trả cho anh Lê Văn H2 chiếc xe ô tô BKS 36A – 911.19.
  • Đối với 3 quyển sổ, giấy vay tiền, hóa đơn được đưa vào hồ sơ vụ án; Số tiền 679.000.000đ; 2 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng gold; 1 điện thoại Nokia 1202, căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.

- Về dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền lãi đã trả cho các bị cáo.

Bản án số 12/2024/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đình M, Hà Thị N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: 1. Bị cáo Lê Đình M: 180.000.000 đồng.

2. Bị cáo Hà Thị N: 120.000.000 đồng.

Biện pháp tư pháp:

- Về số tiền thu lời bất chính: Truy thu của bị cáo Lê Đình M 52.969.000đ, truy thu của bị cáo Lê Đình M và Hà Thị N 45.137.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

- Truy thu khoản tiền gốc người vay chưa trả cho Lê Đình M và Hà Thị N nộp ngân sách Nhà nước cụ thể như sau:

  • Truy thu anh Lê Văn H2 545.000.000đ.
  • Truy thu của anh Trần Văn Đ 37.000.000₫
  • Truy thu của chị Lê Thị Ngọc M1 20.000.000₫
  • Truy thu của chị Lê Thị H3 40.000.000₫

Truy thu khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm của Lê Đình M và Hà Thị N 9.863.000đ, truy thu của Lê Đình M = 7.031.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 22/02/2024, Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn nhận được đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Đình M và Hà Thị N kháng cáo toàn bộ Bản án số 12/2024/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn. Theo đó đề nghị cấp phúc thẩm xem xét xác định các bị cáo không phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 BLHS.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo Lê Đình M và Hà Thị N thay đổi nội dung kháng cáo; theo đó các bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Đình M và Hà Thị N, sửa quyết định bản án sơ thẩm; giảm mức phạt cho bị cáo M từ 60 đến 80 triệu đồng; bị cáo N từ 40 đến 60 triệu đồng; Biện pháp tư pháp: Không truy thu của các bị cáo khoản tiền lãi vượt quá 20%; các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo quá hạn nên Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã xét kháng cáo quá hạn. Theo đó, tại Quyết định số 01/2024/HSPT-QĐ ngày 15/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn của các bị cáo Lê Đình M và Hà Thị N nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2023 Lê Đình M cho cầm cố tài sản và cho vay tín chấp khoảng hơn 40 người. Người dân khi đến liên hệ cầm cố tài sản để vay tiền, để đảm bảo việc người vay trả nợ, M yêu cầu người vay làm hợp đồng mua bán tài sản. Mức lãi suất M cho vay thường là từ 3.000đ/triệu/ngày đến 5.000đ/triệu/ngày tương đương với mức lãi suất 111,5%/năm đến 347,6%/năm.

Trong đó, những người mà Lê Đình M cắt lãi cao vi phạm pháp luật còn thời hiệu xử lý hình sự có 5 người, gồm: anh Lê Văn H2, anh Nguyễn Văn S, chị Lê Thị Ngọc M1, anh Trần Văn Đ và chị Lê Thị H3. Tổng số tiền thu lời bất chính của bị cáo Lê Đình M là 98.106.000đ; bị cáo Hà Thị N đồng phạm với Lê Đình M thu lời bất chính của anh Lê Văn H2 số tiền 45.137.000đ.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Lê Đình M và Hà Thị N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo M và N:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây mất trật tự trị an chung.

Khi quyết định hình phạt án sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với các bị cáo là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Đình M 180.000.000 đồng, bị cáo Hà Thị N 120.000.000 đồng là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo M và N có tình tiết giảm nhẹ TNHS mới là thành khẩn khai báo, nộp quỹ khuyến học tại UBND xã H số tiền 200.000 đồng; bố bị cáo M tham gia dân công hoả tuyến được hưởng chế độ dân công hoả tuyến năm 2018; căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ TNHS mới nên giảm 1 phần TNHS cho các bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[4]. Biện pháp tư pháp: Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền Lê Đình M và Hà Thị N thu lợi bất chính của người vay, do người vay không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền lãi đã trả cho các bị cáo, nên không truy thu của bị cáo Lê Đình M 52.969.000đ, không truy thu của bị cáo Lê Đình M và bị cáo Hà Thị N 45.137.000đ.

[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[6]. Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo M và N được chấp nhận nên không phải chịu án phí HSPT. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của BLTTHS. Điểm h khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Đình M và Hà Thị N. Sửa quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa về giảm hình phạt, không truy thu đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm.
    • - Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đình M, Hà Thị N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt: 1. Bị cáo Lê Đình M: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
    • 2. Bị cáo Hà Thị N: 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
    • * Biện pháp tư pháp:
    • - Về số tiền thu lời bất chính: Không truy thu của bị cáo Lê Đình M số tiền 52.969.000 đồng, không truy thu của bị cáo Lê Đình M và bị cáo Hà Thị N số tiền 45.137.000 đồng.
    • - Truy thu khoản tiền gốc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa trả cho Lê Đình M và Hà Thị N để nộp ngân sách Nhà nước cụ thể như sau:
      • Truy thu của anh Lê Văn H2 545.000.000đ.
      • Truy thu của anh Trần Văn Đ 37.000.000₫
      • Truy thu của chị Lê Thị Ngọc M1 20.000.000₫
      • Truy thu của chị Lê Thị H3 40.000.000₫
    • Truy thu khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm của Lê Đình M và Hà Thị N số tiền 9.863.000đ, truy thu của Lê Đình M số tiền 7.031.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí: Các bị cáo Lê Đình M, Hà Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Triệu Sơn;
  • - Công an huyện Triệu Sơn;
  • - Chi Cục THADS huyện Triệu Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 107/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger