TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23 – 5 – 2024
V/v xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hoàng Sơn
Ông Huỳnh Minh Bền
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 197/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Kim V, sinh năm 1988. Địa chỉ nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Nguyên Anh T, sinh năm 1990. Địa chỉ nơi cư trú: Ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Kim V trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phan Kim V và anh Bùi Nguyên Anh T chung sống như vợ chồng vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố C theo giấy chứng nhận kết hôn số 53/2012, ngày 07/4/2012. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cự cải nhau nhiều lần, không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị V và Anh T đã sống ly thân từ tháng 05/2023 đến nay nên chị V xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có một người con tên Bùi Phan Liêu K, sinh ngày 24/09/2012, hiện con đang sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị V xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với anh Bùi Nguyên Anh T, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt không có lý do nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Phan Kim V có đơn yêu cầu không hòa giải vụ án, nên vụ án không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án mà đưa vụ án ra xét xử là đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Bùi Nguyên Anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng anh T không nhận văn bản tố tụng và vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
[2] Về nội dung tranh chấp được xác định là tranh chấp xin ly hôn. Chị Phan Kim V và anh Bùi Nguyên Anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố C theo giấy chứng nhận kết hôn số 53/2012, ngày 07/4/2012 nên hôn nhân của chị V và anh T được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Chị V cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị V và anh T đã sống ly thân từ tháng 05/2023 đến nay, chị V xin được ly hôn với anh T. Đối với anh Bùi Nguyên Anh T, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh T không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị V là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Kim V và anh Bùi Nguyên Anh T có nhiều mâu thuẫn, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên lời trình bày và yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Kim V là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về con chung: Có một người con tên Bùi Phan Liêu K, sinh ngày 24/09/2012, đang sống với chị V. Khi ly hôn, nguyện vọng của của cháu K là muốn được sống với chị V và chị V1 yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Xét thấy: Việc giao cháu K cho chị V trực tiếp nuôi là phù hợp với nguyện vọng của con, phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, không làm xáo trộn đời sống, sinh hoạt và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của con. Do đó, giao cháu K cho chị V nuôi là phù hợp.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị V xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình chị Phan Kim V phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
2
Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Kim V được ly hôn với anh Bùi Nguyên Anh T.
- - Về con chung: Giao con Bùi Phan Liêu K, sinh ngày 24/09/2012 cho chị Phan Kim V trực tiếp nuôi.
- Anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Phan Kim V phải chịu 300.000 đồng. Ngày 02 tháng 04 năm 2024, chị Phan Kim V đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008341 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được giữ y sung quỹ nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phan Kim V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Nguyên Anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Linh |
3
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
