Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HC-ST

Ngày: 05/6/2024

V/v “Khiếu kiện Quyết định hành

chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Thúy, bà Nguyễn Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Mạnh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2023/TLST-HC ngày 09/11/2023 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HC ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Lê Doãn Đ, sinh năm 1956; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

    Địa chỉ: TDP T, P.T, TP S, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S

    Địa chỉ: Số G, đường T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc B – Phó Chủ tịch UBND Thành phố S. Có đơn xin xét xử vắng mặt;

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. UBND phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thăng G – Chủ tịch UBND phường T- Có đơn xin xét xử vắng mặt;
    2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1960 (vợ ông Lê Doãn Đ). Vắng mặt;

      Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

2

  1. Người khởi kiện là ông Lê Doãn Đ trong đơn khởi kiện ghi ngày 30 tháng 10 năm 2023 (giao nộp ngày 03/11/2023), trong quá trình tố tụng đã trình bày:

    Gia đình ông có quyền sử dụng lô đất thổ cư tại TDP T, phường T, TP S, tỉnh Thanh Hóa, lô đất của gia đình ông được sử dụng vào mục đích đất ở trước ngày 18/12/1980 và được ghi nhận trong hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, cụ thể:

    • - Hồ sơ 299 (đo vẽ, lập năm 1984) thể hiện: thửa đất số 1166, tờ bản đồ số 02, phường T, diện tích: 1.010 m², loại đất: T, đăng ký sử dụng: Nguyễn Thị D. Do thửa đất ở của ông giáp thửa đất của bà D thời điểm năm 1985 lập bản đồ địa chính, do đoàn đo đạc đã đo chung cả thửa đất ở của gia đình ông và đất ở của bà D và mang tên bà D.
    • - Hồ sơ địa chính 382 (lập năm 1995) thể hiện: thửa đất số 109, tờ bản đồ số 11, diện tích: 396 m2 loại đất: T, đăng ký sử dụng: Lê Doãn Đ
    • -Hồ sơ địa chính 2010, tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 27, diện tích: 426,5 m2 loại đất: ODT, đăng ký sử dụng: Nguyễn Thị H (em dâu).

    Hiện trạng ông sử dụng đất với diện tích thực tế được ghi nhận là 406,7 m2 thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, loại đất ODT theo Trích do bản đồ địa chính phường T năm 2018 và Trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai - Sở T2 lập năm 2020. Thửa đất của gia đình ông chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Thực hiện Dự án Khu đô thị quảng trường biển, thành phố S: Ngày 09/8/2021, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 4293/QĐ-UBND, tờ bản đồ số 23, phường T, thành phố S; theo đó thu hồi tại thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, diện tích 406, 7m2 trong đó đất ở là 200,0 m2; đất trồng cây lâu năm (CLN) là 206,7 m2

    Ngày 09/8/2021, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 4294/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho gia đình ông Lê Doãn Đ, trong đó xác định tổng diện tích đất thu hồi và bồi thường, hỗ trợ là 406, 7m2 (loại đất: 200,0 m² là đất ODT, 206,7 m² là đất CLN; Kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho tôi tổng số tiền là 2.121.075.000đ ( hai tỷ, một trăm hai mốt triệu, không trăm bảy mươi lăm nghìn).

    Ngày 11/6/2021, UBND phường T đã tổ chức hội nghị xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của gia đình ông có nhà ở sau ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993 là không đúng sự thật. Vì lý do, tất cả các hộ dân được UBND phường T được mời lên để lấy ý kiến đều cho rằng đất của gia đình ông Đ là đất ở do bố mẹ ông để lại cho ông từ trước năm 1980, bà H là con dâu đang ở trên đất.

    UBND phường T đã không tôn trọng ý kiến của người dân mà ngày 11/6/2021 đã trên cơ sở ý kiến của một số cán bộ đã tự tổ chức xác định gia đình tôi sử dụng đất sau ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993 đã dẫn đến việc UBND thành phố xác định sai hạn mức đất ở của gia đình ông Đ kéo theo thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường cho gia đình ông sai đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của gia đình ông.

3

Sau đó ông đã làm đơn đề nghị Tòa án tổ chức lấy ý kiến của các hộ liền kề với gia đình ông ở khoảng cách gần nhất, có độ tuổi sinh năm từ 1940 đến 1960 để xác định xem ông ở trên thửa đất từ thời điểm nào. Tại buổi làm việc ngày 02/4/2024 do Tòa án tiến hành, có sự chứng kiến của chủ tịch UBND phường T, 12 hộ dân được mời và 02 cán bộ địa chính giai đoạn từ 1985 đến 2002 đều xác nhận: ông Lê Doãn Đ cùng gia đình ở trên thửa đất trước năm 1980, từ trước năm 1977, 1978. Ông Đ cùng gia đình sinh sống liên tục, ổn định.

Thực tế, ông đã ở trên thửa đất này từ khi xây dựng gia đình (khoảng năm 1964) cho đến khi bị nhà nước thu hồi.

Từ lẽ trên, ông đã làm đơn khởi kiện UBND thành phố S và yêu cầu TAND tỉnh Thanh Hóa giải quyết, xét xử:

  • - Hủy một phần Quyết định số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 về việc thu hồi đất của hộ ông Lê Doãn Đ sử dụng đất tại phường T để thực hiện Dự án Khu đô thị Q, thành phố S, cụ thể huỷ kết quả thu hồi đất diện tích 206,7m2 đất trồng cây lâu năm (CLN) tại điều 1 của Quyết định số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 của UBND thành phố S; Buộc UBND thành phố S phải thu hồi và bồi thường toàn bộ diện tích 406,7 m2 đất bị thu hồi của tôi thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, phường T, thành phố S là đất ở (đã thu hồi 200,0 m² đất ở và 206,7 m² đất trồng cây lâu năm).
  • - Hủy một phần Quyết định số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho hộ ông Lê Doãn Đ sử dụng đất tại phường T để thực hiện Dự án Khu đô thị Q, thành phố S; Buộc UBND thành phố S phải phê duyệt lại phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, xác định toàn bộ diện tích 406,7 m2 đất thu hồi và bồi thường, hỗ trợ của tôi là đất ở (đã bồi thường 200,0 m² đất ở, điều chỉnh giá trị bồi thường từ 206,7m2 đất trồng cây lâu năm thành đất ở.
  • -Buộc U bố trí bổ sung đất tái định cư tương ứng với diện tích 206,7m2 đất ở được phê duyệt, bồi thường bổ sung khi thu hồi đất theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

2. Người bị kiện là UBND thành phố S trình bày tại văn bản số 6366 ngày 20/12/2023 và các tài liệu liên quan như sau:

1. Theo Biên bản xác nhận về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất cho ông Lê Doãn Đ ngày 11/6/2021 của UBND phường T:

  • Ông Lê Doãn Đ sử dụng đất có nhà ở sau ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993. Đất sử dụng ổn định, không lấn chiếm, không tranh chấp.
  • Hồ sơ quản lý nhà nước về đất đai qua các thời kỳ:
  • Hồ sơ 299/TTg: tại thửa đất số 1166, tờ bản đồ số 02, diện tích: 1.010,0m2, loại đất: T, đăng ký sử dụng: Nguyễn Thị D. Trong mục kê ghi diện tích 600,0m2. Ông Đ không có quan hệ huyết thống với bà D, không mua bán với nhau. Do hồ sơ 299 đo chung đất nông nghiệp của gia đình ông Đ vào đất bà D nên không thể hiện đất của gia đình ông Đ.

4

Theo Biên bản xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của UBND phường T, ông Lê Doãn Đ sử dụng đất ở có nhà ở sau ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993. Vì vậy, hạn mức công nhận đất ở của hộ ông Lê Doãn Đ là 200,0m2 đất ở.

Ngày 09/8/2021, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 4293/QĐ-UBND thu hồi đất và Quyết định số 4294/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho hộ ông Lê Doãn Đ để GPMB thực hiện dự án Khu đô thị Q. Theo đó, đã thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho ông Lê Doãn Đ tại thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23 diện tích 406,7 m2 trong đó đất ở 200,0 m2, đất CLN 206,7m2 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Việc ông Lê Doãn Đ khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc UBND thành phố S huỷ 1 phần Quyết định số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 và 1 phần Quyết định số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021; xác định toàn bộ diện tích thu hồi là đất ở là không có cơ sở.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết theo quy định.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND phường T trình bày: tại văn bản số 357 ngày 12 tháng 4 năm 2024 : Ông Đ làm đơn khởi kiện ngày 30/10/2023 mà các Quyết định hành chính ban hành ngày 09/8/2021. Căn cứ các nội dung cụ thể ông Lê Doãn Đ khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết; Căn cứ Điểm a, Khoản 2, Điều 116 Luật Tô tụng hành chính năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện: “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc”; Điểm g, Khoản 1, Điều 143, Luật Tổ Tụng hành chính năm 2015 quy định về các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án: “Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây: g) Thời hiệu khởi kiện đã hết”.

Như vậy, nội dung khởi kiện của ông Lê Doãn Đ đã hết thời hiệu khởi kiện.

-Đối với bà Nguyễn Thị V là vợ ông Đ thống nhất như trình bày của ông Đ.

* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,Thư ký Tòa án đã tuân thủ đảm bảo đúng trình tự thủ thục tố tụng từ khi thụ lý vụ án, tổ chức đối thoại, ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến tại phiên tòa sơ thẩm. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng Hành chính.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 điều 193 Luật tố tụng hành chính 2015 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Doãn Đ.

Về án phí: U phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Theo khoản 2 Điều 32 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để quyết định (có bài phát biểu kèm theo).

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng

5

cứ; ý kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự, ý kiến của kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Đối tượng khởi kiện, quyền khởi kiện vụ án hành chính:
    1. [1.1] Đối tượng khởi kiện, quyền khởi kiện vụ án hành chính:

      Quyết định thu hồi đất số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021; Quyết định phê duyệt phương án, hỗ trợ bồi thường số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 của UBND thành phố S ban hành về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của gia đình ông Lê Doãn Đ để thực hiện Dự án: Khu đô thị Q và dự án Quảng trường biển, trục cảnh quan lễ hội thành phố S.

      Đây là các Quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền quản lý về đất đai. Người bị thu hồi đất là ông Lê Doãn Đ và bà Nguyễn Thị V; Ông Đ và bà V cho rằng quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm, nên có quyền khởi kiện và đây là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 khoản 4 Điều 32; Điều 115 Luật Tố tụng hành chính.

    2. [1.2]. Thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 16/11/2022 Hội đồng giải phóng mặt bằng thành phố S phối hợp cùng UBND phường T tiến hành bàn giao các QĐ của U cho hộ ông Lê Doãn Đ(BL 37), thì ngày 03/11/2023 ông Lê Doãn Đ có đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa yêu cầu hủy một phần các Quyết định thu hồi đất số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021; Quyết định phê duyệt phương án, hỗ trợ bồi thường số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021. Đơn khởi kiện của ông Đ trong thời hạn 01 năm nên vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Thanh Hoá theo khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

    Quan điểm của UBND phường T là vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện là không chính xác, UBND phường T không phải là người có trách nhiệm giao các Quyết định hành chính cho gia đình ông Lê Doãn Đ, cũng không đưa ra được các căn cứ để xác định hộ gia đình ông Đ nhận các quyết định hành chính của UBND Thành phố S vào thời điểm cụ thể nào.

    Tại phiên toà: UBND thành phố S, UBND phường T có đơn xin xét xử vắng mặt; Người khởi kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện uỷ quyền hợp pháp và xin được xét xử vắng mặt nên vụ án được xét xử theo thủ tục chung theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

  2. Về yêu cầu khởi kiện của ông Lê Doãn Đ:

    Ông Đ khởi kiện yêu cầu: Hủy một phần Quyết định số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 về việc thu hồi đất; Hủy một phần Quyết định số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 phê duyệt phương án, dự toán bồi thường, GPMB của U. Buộc UBND thành phố S xác định toàn bộ diện tích đất thu hồi, bồi thường, hỗ trợ 406,7m2 là đất ở (đã thu hồi, phê duyệt bồi thường 200m2 đất ở; nay điều chỉnh giá trị bồi thường từ 206,7m2 trồng cây lâu năm thành đất ở) tại thửa thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính phường T; đề nghị U phải bố trí đất tái định

6

cư cho ông ương ứng với diện tích 206,7m2 đất ở bị thu hồi được phê duyệt bổ sung theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

    1. [2.1]. Xét tính hợp pháp của các Quyết định hành chính của UBND Thành phố S:

      Thực hiện Dự án Khu đô thị Q, UBND Thành phố S đã ban hành các Quyết định số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 về việc thu hồi đất; và Quyết định số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 phê duyệt phương án, dự toán bồi thường, GPMB đối với gia đình ông Lê Doãn Đ thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23 bản đồ địa chính phường T. Đây là các quyết định hành chính được người có thẩm quyền ban hành là đúng thẩm quyền; căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 66, khoản 3 Điều 69 Luật đất đai 2013.

    2. [2.2] Về nguồn gốc đất của hộ gia đình ông Lê Doãn Đ, quá trình sử dụng đất:
      • + Về hồ sơ địa chính qua các thời kỳ.
      • - Hồ sơ 299/TTg: tại thửa đất số 1166, tờ bản đồ số 02, diện tích: 1.010 m², loại đất: T, đăng ký sử dụng: Nguyễn Thị D. Trong mục kê ghi diện tích 600,0 m². Ông Đ không có quan hệ huyết thống với bà D, không mua bán với nhau. Do hồ sơ 299 đo chung đất nông nghiệp của gia đình ông Đ vào đất bà D nên không thể hiện đất của gia đình ông Đ.

        - Hồ sơ 382: thửa đất số 109, tờ bản đồ số 11, diện tích: 396 m², loại đất: Ở + vườn, đăng ký sử dụng: Lê Doãn Đ.

        - Hồ sơ 210: Tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 27, diện tích 426,5m2; loại đất: ODT, đăng kí sử dụng Nguyễn Thị H

        - Hồ sơ trích đo 2018: tại thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, diện tích 406,7m2; loại đất ODT, đăng ký sử dụng Nguyễn Thị H (bà H là em gái ông Đ).

      • + Về hiện trạng sử dụng đất. Thực hiện Dự án Q biển, nhà nước thu hồi của hộ gia đình ông Lê Doãn Đ1 với diện tích diện tích 406,7m² ( trong đó 200m2 đất ở + 206,7m2 (thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23) theo Quyết định thu hồi đất số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 của U. Quyết định số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 phê duyệt phương án, dự toán bồi thường, GPMB của U. Tại thời điểm thu hồi, bồi thường GPMB tại thửa phần diện tích còn lại sau khi thu hồi đang có nhà ở và công trình xây dựng trên đất.
      • + Ngày 12/12/2023 ông Lê Doãn Đ có đơn yêu cầu Tòa án lấy ý kiến của các hộ dân sinh sống liền kề gia đình ông từ trước năm 1980 trong độ tuổi sinh năm 1040 đến 1960, để xác định lại việc ông có ở trên thửa đất từ trước năm 1980 cho đến thời điểm bị thu hồi không, có lâu dài, ổn định, liên tục không. Nên ng 02/4/2024 TAND Tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện lấy ý kiến của 12 hộ dân với nội dung trên. Tại buổi làm việc, có sự chứng kiến của Chủ tịch UBND phường T, các cán bộ địa chính qua hai thời kỳ từ năm 1985 đến 2022 đã thể hiện: Ông Đ sinh sống trên thửa đất từ những năm 1977,1978 đến thời điểm nhà nước thu hồi đất, ổn định và liên tục, không tranh chấp (BL 83-84). Cụ thể:

7

  • - Ông Nguyễn Hữu H1, SN 1949, là cán bộ địa chính phường T giai đoạn 1985-1995: Từ khi ông làm cán bộ địa chính trên địa bàn thì giai đoạn trước năm 1985 chưa có bản đồ địa chính. Đến năm 1985 Sầm S mới ký bản đồ địa chính đầu tiên. Năm 1985, khi ông làm cán bộ địa chính thì đã thấy hộ gia đình ông Đ sinh sống tại thửa đất này, hộ ông Đ là dân gốc ở đây, đã sống ở thửa đất này rất lâu rồi và ở liên tục ổn định cho đến khi bị thu hồi đất. Ông Lê Việt H2, sinh năm 1963 cán bộ địa chính phường T giai đoạn 1996-2002: thì ông H2 cách nhà ông Đ khoảng 600,700m. Thời điểm ông trở về làm địa chính là năm 1996 thì biết hộ gia đình nhà ông Đ đã và đang sinh sống tại thửa đất nhà ông ấy.
  • -Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962: bà là con gái duy nhất của bà Nguyễn Thị D (chết năm 1987) là hàng xóm và liền kề với nhà ông Đ do có sự nhầm lẫn của đo đạc nên đã đo bao chung đất của nhà bà chung với đất nhà ông Đ.Tuy nhiên, hiện nay UBND đã xác định diện tích đất chính xác của từng nhà, gia đình bà đã được bồi thường theo đúng diện tích, đúng quy định pháp luật. Bà T1 khẳng định đã sinh sống trên thửa đất của gia đình bà liền kề nhà ông Đ từ những năm 1977 -1978, từ khi bà chuyển về sống thì đã thấy ông Đ cùng gia đình ở trên thửa đất nhà ông ấy và gia đình ông Đ đã sinh sống trên thửa đất nhà ông ấy từ trước năm 1980, liên tục, ổn định, không có tranh chấp với ai và cũng không chuyển đi đâu cả.
  • -Các ông bà: Cao Sỹ K, sinh năm 1945; ông Lê Văn C sinh năm 1955; bà Lê Thị D1, sinh năm 1947; ông Lê Văn C1 sinh năm 1947; ông Lê Văn V1,sinh năm 1952; ông Lê Nhữ M, sinh năm 1958; bà Văn Thị C2, sinh năm 1958; ông Ngô Hữu C3, sinh năm 1960, bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; bà Đoàn Thị V2, sinh năm 1954 và bà Văn Thị H3, sinh năm 1960: các hộ dân đều sinh sống trên cùng địa bàn, thời điểm sử dụng đất, những hộ liền kề với gia đình ông Lê Doãn Đ đều có chung ý kiến: “Ông Lê Doãn Đ đã làm nhà ở và sinh sống trên đất trước năm 1980 thuộc thửa đất số 130. Thửa đất trên được gia đình ông Đ sử dụng ổn định liên tục, không tranh chấp, không lấn chiếm.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định lô đất có diện tích bị thu hồi 406,7m2 thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23 (bản đồ địa chính phường T) của ông Lê Doãn Đ có nguồn gốc là đất thổ cư lâu đời, được sử dụng vào mục đích đất ở, có nhà ở từ trước trước ngày 18/12/1980.

  • + Về vị trí sử dụng đất: Thửa đất của gia đình ông có diện tích thu hồi 406,7 m2 thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, theo trích đo bản đồ địa năm 2018 phường T và trích lục bản đồ địa chính do văn phòng đăng kí đất đai sở T2 năm 2020 (BL 65) trước kia thuộc xã Q, huyện Q, trước khi thị xã S được thành lập ( ngày 18/12/1981) và phường T lên đô thị ngày (06/12/1995) có vị trí tiếp giáp đường ngõ xóm, chật hẹp, không thuộc khu vực ven đường giao thông, trung tâm xã, không thuận lợi cho hoạt động thương mại, dịch vụ và sinh hoạtvà thuộc địa bàn nông thôn, xã đồng bằng.

Căn cứ vào thời điểm sử dụng đất và địa bàn sử dụng đất thì thửa đất của hộ ông Lê Doãn Đ được áp dụng chính sách “hạn mức địa bàn nông thôn” khi công nhận “hạn mức công nhận đất ở” theo Quy định tại Khoản 1 Điều 4 được ban hành kèm theo Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh T, về việc ban hành Quy định hạn mức giao đất ở; diện tích tối

8

thiểu được tách thửa đối với đất ở; hạn mức công nhận đất ở và hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước... trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

Tại khoản 1 Điều 4 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh T quy định: “Điều 4. Hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở tại nông thôn (theo Khoản 2 Điều 143 Luật đất đai năm 2013)”.

  1. Hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân.
    • Đối với địa bàn xã thuộc thành phố, thị xã: Tối đa 120m²/hộ;
    • Đối với địa bàn xã D thuộc huyện.

- Tối đa 150m²/hộ đối với các vị trí ven đường giao thông, khu vực trung tâm xã, cụm xã T cho hoạt động thương mại, dịch vụ, sinh hoạt;

- Tối đa 200m²/hộ đối với các vị trí còn lại...

Theo Khoản 2 Điều 1 Quy định 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh T về “sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về hạn mức giao đất...” quy định: “2. Đối với trường hợp đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ nhưng có tên trong sổ hoặc kê hoặc có các tài liệu chứng cứ khác, chứng minh nguồn gốc sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15/10/1993 thì diện tích đất ở được xác định như sau: ...

b) Trường hợp đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 18/12/1980 thì diện tích đất ở được xác định theo thực tế đang sử dụng, nhưng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 và Khoản 1 Điều 4 của quy định này”.

Đối chiếu với quy định trên thì hộ ông Lê Doãn Đ được công nhận diện tích đất ở tối đa là 1.000m² (200m² x 05 = 1.000m²). Đây là hạn mức được công nhận đất ở không phải nộp tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng là hạn mức đất ở được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng đối với hộ ông Lê Doãn Đ.

Việc UBND thành phố S thu hồi 406,7 m2 đang thấp hơn diện tích đất ở tối đa nhưng chỉ xác định 200m2 ở và xác định 206,7 m2 diện tích đất của hộ ông Lê Doãn Đ đang sử dụng bị thu hồi là đất cây lâu năm (CLN) là chưa xem xét đầy đủ về thời điểm sử dụng đất, địa bàn sử dụng đất và các chính sách của Nhà nước khi quy định hạn mức công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân là không chính xác, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của hộ ông Lê Doãn Đ.

Vì vậy, việc ông Lê Doãn Đ khởi kiện yêu cầu hủy một phần Quyết định Quyết định thu hồi đất số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021; Quyết định phê duyệt phương án, hỗ trợ bồi thường số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021. Buộc U xác định tổng diện tích bồi thường đất bị thu 406,7 m2 đất thu hồi thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính phường T là đất ở là có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu bố trí tái định cư diện tích đất 206,7 m2 được công nhận là đất ở: Đề nghị U căn cứ vào tình hình thực tế quỹ đất tại địa phương để cấp đất tái

9

định cư cho hộ ông Lê Doãn Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Luật đất đai và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và chính sách chung của Dự án.

Về án phí: Ông Đ được chấp nhận đơn khởi kiện nên không phải chịu án phí. UBND Thành phố S phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; Điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 204; Khoản 1 Điều 206; Khoản 3 Điều 345; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính.

- Điều 74, Điều 75, Điều 100, khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Khoản 1 Điều 7 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014, được đính chính tại Điều 1 Quyết định số 2072/2015/QĐ-UBND ngày 06/6/2015 của UBND tỉnh T; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Doãn Đ:
    • - Hủy một phần Quyết định số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 về việc thu hồi đất của hộ ông Lê Doãn Đ sử dụng đất tại phường T để thực hiện Dự án Khu đô thị Q, thành phố S, cụ thể huỷ kết quả thu hồi đất diện tích 206,7m2 đất trồng cây lâu năm (CLN) tại điều 1 của Quyết định số 4293/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 của UBND thành phố S;
    • - Hủy một phần Quyết định số 4294/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho hộ ông Lê Doãn Đ sử dụng đất tại phường T để thực hiện Dự án Khu đô thị Q biển, thành phố S;
    • -Buộc UBND thành phố S phải thu hồi và bồi thường toàn bộ diện tích 406,7 m2 đất bị thu hồi của tôi thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 23, phường T, thành phố S là đất ở (đã thu hồi 200,0 m² đất ở và 206,7 m² đất trồng cây lâu năm).
    • -Buộc UBND thành phố S bố trí bổ sung đất tái định cư tương ứng với diện tích 206,7m2 đất ở được phê duyệt, bồi thường bổ sung khi thu hồi đất theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án
  2. Án phí hành chính sơ thẩm:
    • - UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hoá phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
    • - Ông Lê Doãn Đ không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

10

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • -VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • -Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • -Đương sự;
  • -Lưu hô sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HC-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 107/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Doãn Đ - Ủy ban nhân dân thành phố S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger