|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/DS-ST Ngày 19 - 9 - 2024 V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vi Văn Chắt.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Bùi Thị Hoa
Bà Nguyễn Thị Quế Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 232/2023/TLST-DS về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 160/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1935; hộ khẩu thường trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Chu Văn M, sinh năm 1997; địa chỉ: xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1990 - Công ty L; có mặt.
- Bị đơn: Anh Vương Như H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vương Đình D, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978. Cùng địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ông D có mặt, bà N vắng mặt. Ông D là người đại diện theo uỷ quyền của bà N.
- Bà Vương Thị P, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: 458/10/11 H, phường B, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà P: Anh Trần Trọng C, sinh năm 1991;
- địa chỉ: Xóm P, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Bà Vương Thị N1, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Anh Vương Như T, sinh năm 2000; hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Nhật Bản; vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của anh T: Bà Trương Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1962 và bà Vương Thị D1, sinh năm 1959. Cùng địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Vương Công V, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1968. Cùng địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 9 năm 2023; bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Bà Nguyễn Thị S và chồng là ông Vương Đình X (sinh năm 1936, chết năm 2015); hộ khẩu thường trú trước khi chết tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) sinh được 04 (bốn) người con chung gồm: bà Vương Thị P (sinh năm 1964), ông Vương Đình C1 (sinh năm 1969 - chết năm 2003), ông Vương Đình D (sinh năm 1973), bà Vương Thị N1 (sinh năm 1974). Vợ chồng ông bà không có con chung, con riêng và cũng không có con nuôi. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông bà tạo lập được khối tài sản là diện tích 1.037m2 thuộc thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8, địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và đã được cấp GCN QSDĐ số BP287089, Số vào sổ cấp GCN: CH01455 do UBND huyện N cấp ngày 24/02/2014. Căn cứ theo quy định của pháp luật thì thửa đất nêu trên được coi là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, vợ chồng bà S mỗi người có quyền sử dụng đối với ½ diện tích thửa đất này.
Ngày 20/5/2003, con trai bà S là ông Vương Đình C1 chết không để lại di chúc. Khi còn sống, ông C1 kết hôn hợp pháp với bà Trương Thị T1 (sinh năm 1970) và có 02 con chung là ông Vương Như H1 (sinh năm 1991), ông Vương Như T (sinh năm 2000). Ngày 02/5/2015, ông Vương Đình X chết không để lại di chúc. Sau khi ông X chết thì bà S cùng con trai là ông Vương Đình D và cháu nội là ông Vương Như H1 (con trai ông Vương Đình C1) cùng quản lý, sử dụng diện tích đất nêu trên.
Hiện nay, bà S cùng các đồng thừa kế hợp pháp khác của ông X (bao gồm: ông Vương Đình D, bà Vương Thị N1, bà Vương Thị P, ông Vương Như H1 và ông Vương Như T (con trai của ông Vương Đình C1) không thể tự thỏa thuận về việc phân chia di sản thừa kế do ông Vương Đình X để lại. Di sản thừa kế ông X để lại là ½ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 với diện tích 1.037m2 có địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì ông H1 (con trai ông C1) không phối hợp giải quyết và xảy ra tranh chấp.
Để đảm bảo quyền lợi của mình, bà Nguyễn Thị S khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
- Phân chia di sản sản thừa kế của ông Vương Đình X để lại là ½ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 với diện tích 1.037m2 có địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo quy định của pháp luật.
- Đối với quyền sử dụng ½ thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 với diện tích 1.037m2 có địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu của bà S và phần di sản thừa kế các hàng thừa kế tặng cho lại bà S bà S tặng cho lại con trai là ông Vương Đình D.
- Đối với phần diện tích chồng lấn giữa thửa đất 666, tờ bản đồ số 8 của gia đình bà S với thửa đất số 665, tờ bản đồ số 8 của gia đình ông V1 Công Văn và bà Nguyễn Thị T3 và thửa đất 732, tờ bản đồ số 8 của ông Nguyễn Văn T2 và bà Vương Thị D1, bà S và các bên thống nhất giữ nguyên hiện trạng sử dụng như hiện nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm; bị đơn anh Vương Như H1 trình bày:
Thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 đất có địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có nguồn gốc đất là của ông Vương Đình X và bà Nguyễn Thị S. Anh H1 là con trai cả của ông Vương Đình C1. Anh H1 thừa nhận về nguồn gốc thửa đất, mối quan hệ nhân thân như nguyên đơn đã trình bày.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S, anh H1 đồng ý và đề nghị cắt một phần diện tích đất nhà thờ đã có khuôn viên sẵn là tài sản chung làm nhà thờ họ, thuộc sở hữu chung của các đồng thừa kế của ông Vương Đình X. Đối với phần diện tích đất tiếp giáp giữa thửa đất số 700, tờ bản đồ số 8 và phía bắc của nhà thờ có diện tích khoảng 24,2m² thì nhập vào thửa đất số 700, tờ bản đồ số 8 cho gia đình bà Trương Thị T1. Và anh H1 đề nghị nhận một suất thừa kế của bố là ông Vương Đình C1 được hưởng theo thỏa thuận.
Đối với phần diện tích chồng lấn giữa thửa đất 666, tờ bản đồ số 8 của gia đình bà S với thửa đất số 665, tờ bản đồ số 8 của gia đình ông V1 Công Văn và bà Nguyễn Thị T3 và thửa đất 732, tờ bản đồ số 8 của ông Nguyễn Văn T2 và bà Vương Thị D1, anh H1 và các bên thống nhất giữ nguyên hiện trạng sử dụng hiện nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vương Như T và bà Trương Thị T1 thống nhất trình bày: thống nhất như phần trình bày của ông H1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Đình D, bà Nguyễn Thị N thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông D đồng ý với nội dung khởi kiện của bà S, trên thửa đất đang tranh có ngôi nhà một tầng do vợ chồng ông D xây dựng năm 2022, trước đây vợ chồng ông D ở chung với bố mẹ đến năm 2022 xây nhà ra ở riêng trên thửa đất. Hiện nay bà S đang ở cùng gia đình ông D trên thửa đất đó. Nay bà S yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế ông D đề nghị chia ½ diện tích đất là tài sản riêng của bà S và đồng ý với phương án cắt phần diện tích đất nhà thờ đã có khuôn viên sẵn là tài sản chung làm nhà thờ họ, thuộc sở hữu chung của các đồng thừa kế của ông Vương Đình X. Đồng thời, ông Vương Đình D đồng ý nhận các phần di sản thừa kế mà các hàng thừa kế tặng cho ông D.
Đối với phần diện tích chồng lấn giữa thửa đất 666, tờ bản đồ số 8 của gia đình bà S với thửa đất số 665, tờ bản đồ số 8 của gia đình ông V1 Công Văn và bà Nguyễn Thị T3 và thửa đất 732, tờ bản đồ số 8 của ông Nguyễn Văn T2 và bà Vương Thị D1 thống nhất giữ nguyên hiện trạng sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị N1 trình bày:
Diện tích 1.037m2 thuộc thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 đất có địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có nguồn gốc đất là của bố mẹ là ông Vương Đình X và bà Nguyễn Thị S. Bà N1 đồng ý với nội dung khởi kiện của bà S và đề nghị cắt phần diện tích đất nhà thờ đã có khuôn viên sẵn là tài sản chung làm nhà thờ họ, thuộc sở hữu chung của các đồng thừa kế của ông Vương Đình X. Đối với phần thừa kế của ông Vương Đình X mà bà được nhận, bà đề nghị nhận giá trị bằng tiền theo suất thừa kế do ông D giao lại theo giá đã định.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị P và người đại diện theo uỷ quyền của bà P trình bày:
Đồng ý với nội dung khởi kiện của bà S và đề nghị cắt phần diện tích đất nhà thờ đã có khuôn viên sẵn là tài sản chung làm nhà thờ họ, thuộc sở hữu chung của các đồng thừa kế của ông X. Đối với phần thừa kế của ông X mà bà P được nhận, bà đề nghị tặng cho lại ông D quản lý sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Công V và bà Nguyễn Thị T3 trình bày:
Thửa đất của gia đình bà T3 và ông V phía nam tiếp giáp với thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An của gia đình bà Nguyễn Thị S, theo kết quả xem xét thẩm định và sơ đồ đo đạc hiện trạng của Toà án thì một phần công trình nhà của bà T3 đang chồng lấn trên thửa đất của bà S. Tuy nhiên, giữa gia đình bà T3 và gia đình bà S không có tranh chấp gì. Hai bên đã có lập Biên bản thoả thuận đề nghị giữ nguyên hiện trạng vào ngày 27/6/2024 và đã nộp cho Toà án.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà T3 xác định không liên quan gì. Còn phần diện tích chồng lấn hai gia đình đã thoả thuận vì vậy đề nghị Toà án giữ nguyên hiện trạng sử dụng của hai gia đình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 và bà Vương Thị D1 trình bày:
Thửa đất của gia đình ông T2 và bà D1 phía bắc tiếp giáp với thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An của gia đình bà Nguyễn Thị S, theo kết quả xem xét thẩm định và sơ đồ đo đạc hiện trạng của Toà án thì hàng rào nhà bà S xây dựng chưa đúng mốc giới quy định, một phần nhỏ diện tích khoảng 10m2 đang ở nhà của ông T2. Ông T2 khẳng định không lấn chiếm của gia đình bà S. Hai bên gia đình khi phát hiện sự việc, đã có văn bản thoả thuận đề ngày 27/6/2024 để gửi cho Toà án. Đề nghị Toà án giữ nguyên hiện trạng của hai gia đình đang sử dụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông T2 xác định không liên quan gì. Còn phần diện tích chồng lấn hai gia đình đã thoả thuận vì vậy đề nghị Toà án giữ nguyên hiện trạng sử dụng của hai gia đình.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh Vương Như H1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà S; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vương Như T ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tại phiên tòa, một số đương sự vắng mặt, Toà án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung khởi kiện của nguyên đơn, chia thừa kế ½ thửa đất theo pháp luật; ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc phân chia di sản thừa kế như tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án Dân sự về việc tranh chấp về thừa kế tài sản có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vương Như T đang ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, một số đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do hoặc đã ủy quyền cho người đại diện tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không thì các đương sự thỏa thuận được và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ Giấy chứng tử của Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An xác định ông Vương Đình X (là chồng của bà Nguyễn Thị S và cha đẻ của bà Vương Thị P, ông Vương Đình C1, ông Vương Đình D, bà Vương Thị N1) đã chết vào ngày 02 tháng 5 năm 2015. Căn cứ khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người có tài sản chết). Ngày 19 tháng 9 năm 2023, bà S nộp đơn khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông Vương Đình X để lại theo quy định của pháp luật và chia tài sản chung vợ chồng là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về phần tài sản chung của vợ chồng: Trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả các đương sự đều thừa nhận rằng ông Vương Đình X (chết năm 2015) và bà Nguyễn Thị S có 04 người con chung gồm: Bà Vương Thị P, ông Vương Đình C1 (chết năm 2003), ông Vương Đình D, bà Vương Thị N1. Ngoài ra, vợ chồng ông bà không có con riêng hay con nuôi nào khác. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông bà tạo lập được khối tài sản là thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 diện tích 1.037m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP287089, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01455 do UBND huyện N cấp ngày 24/02/2014.
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá ngày 29 tháng 5 năm 2024 thể hiện: Thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, hiện trạng có diện tích 1004,6 m², giá thị trường của thửa đất là 5.000.000 đồng/m² x 1004,6 m² = 5.023.000.000 đồng. Trên thửa đất, phía Bắc thửa đất vợ chồng ông Vương Đình D, bà Nguyễn Thị N xây dựng nhà ở vào năm 2023 có diện tích 143.3m2, phía Tây thửa đất có 01 ngôi nhà cấp 4 được con cháu đóng góp xây dựng năm năm 2021, có khuôn riêng và có 01 công trình chăn nuôi do ông D và bà N xây dựng.
Sau khi Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tài sản thì diện tích thực tế của thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 mang tên Vương Đình X và Nguyễn Thị S có diện tích 1.004,6m², giảm 32,4m² so với diện tích 1.037m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP287089 mang tên ông Vương Đình X và bà Nguyễn Thị S. Một phần diện tích đất này đang bị chồng lấn bởi gia đình ông Vương Công V và bà Nguyễn Thị T3 và một phần bị chồng lấn bởi gia đình ông Nguyễn Văn T2 và bà Vương Thị D1. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các đương sự xác định không tranh chấp với các hộ liền kề này, các hộ sử dụng ổn định từ trước đến nay và đề nghị Toà án giữ nguyên hiện trạng sử dụng. Vì vậy, xác định tài sản chung của ông Vương Đình X và bà Nguyễn Thị S là thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 với diện tích theo hiện trạng sử dụng là 1.004,6 m².
[3.2] Về những người được hưởng di sản thừa kế: Ngày 02/5/2015 ông Vương Đình X chết không để lại di chúc, như vậy phần di sản thừa kế của ông X được chia theo pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bà Nguyễn Thị S, bà Vương Thị P, ông Vương Đình C1, ông Vương Đình D, bà Vương Thị N1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản thừa kế do ông X để lại.
Theo Trích lục khai tử số 235/TLKT-BS xác định ông Vương Đình C1 là con trai của ông X đã chết vào ngày 20/5/2003, trước thời điểm ông X chết. Ông C1 kết hôn hợp pháp với bà Trương Thị T1 và có 02 con chung là anh Vương Như H1 (sinh năm 1991), anh Vương Như T (sinh năm 2000). Như vậy, anh H1 và anh T cùng được hưởng một phần di sản thừa kế mà ông C1 được nhận theo quy định tại Điều 652 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3.3] Về việc phân chia di sản thừa kế của ông X:
Theo quy định tại Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình, khi một bên chết thì tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi, phần của người chết sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Phần tài sản chung của ông Vương Đình X và bà Nguyễn Thị S được xác định là thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 với diện tích theo hiện trạng sử dụng là 1.004,6m². Tuy nhiên, tại phiên tòa các bên thỏa thuận phần diện tích đất của ông X để lại là 502,3 m², trừ phần diện tích đất đã có khuôn viên sẵn để làm nhà thờ chi họ có diện tích là 143,2 m² còn lại 359,1m² được chia đều cho các đồng thừa kế mà không tính công sức của bà S và ông D. Di sản thừa kế để lại không có di chúc, được chia thành 05 suất, mỗi người thừa kế được hưởng 71,82m², có giá trị là 359.100.000 đồng. Anh H1 và người đại diện theo ủy quyền của anh T chỉ nhận 65m² trong đó nhận 24,2m² đất giáp với thửa đất nhà bà T1 và anh H1 còn lại nhận tiền do anh D giao lại. Bà Nguyễn Thị S, bà Vương Thị P đồng ý tặng cho lại anh Vương Đình D phần di sản thừa kế mà bà S, bà P được nhận. Bà Vương Thị N1 được hưởng một suất thừa kế có diện tích 71,82m2, có giá trị là 359.100.000 đồng nhưng có nguyện vọng nhận giá trị bằng tiền và do ông Vương Đình D giao lại.
- Về phân chia bằng hiện vật: Căn cứ hiện trạng sử dụng, hình dáng, kích thước thửa đất, sự thoả thuận của các đương sự. Hội đồng xét thấy, cần giao phần diện tích đất và nhà thờ là 143,2 m² thuộc quyền sử dụng quản lý chung của các đồng thừa kế gồm bà Nguyễn Thị S, bà Vương Thị P, ông Vương Đình D, bà Vương Thị N1, anh Vương Như H1 và Vương Như T và các thành viên chi họ. Giao cho anh Vương Như H1 và Vương Như T được quyền sử dụng 24,2m² thuộc thửa đất 666, tờ bản đồ số 8 có phía Đông Bắc giáp đất nhà thờ (A1) dài 17,34m, cạnh phía Tây Nam giáp thửa đất 700 dài 17,72m; cạnh phía Đông Nam giáp đường vào nhà thờ 1,72m, cạnh phía T giáp thửa đất số 665 dài 1,10m. Và giao toàn bộ diện tích đất còn lại của thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8, tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cho ông Vương Đình D tiếp tục được quyền quản lý, sử dụng nhưng ông D phải có trách nhiệm trích trả giá trị di sản thừa kế cho bà Vương Thị N1 là 359.100.000 đồng và trích trả giá trị di sản cho anh H1 và anh T là 204.000.000 đồng.
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có nghĩa vụ, trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo quy định của pháp luật.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Toàn bộ chi phí do bà Nguyễn Thị S nộp và tự nguyện chịu, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Ông Vương Đình D, bà Vương Thị N1, anh Vương Như H1 và anh Vương Như T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị S và Vương Thị P là người cao tuổi, đã có đơn đề nghị được miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí Dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 34, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 623, Điều 634, Điều 635, điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 674, Điều 675, Điều 676, Điều 677, Điều 685 của Bộ luật Dân sự; xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S, chia di sản thừa kế của ông Vương Đình X để lại là ½ thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, diện tích 502,3m² nhưng trừ phần diện tích đất nhà thờ 143,2m² còn lại 359,1m² trị giá: (359,1m² x 5.000.000) = 1.795.500.000 đồng (Một tỉ, bảy trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm nghìn); và giao lại toàn bộ phần diện tích đất của bà S cho ông Vương Đình D được quyền sử dụng có diện tích 502,3m².
- Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
+ Giao phần diện tích đất và nhà thờ là 143,2 m² có tứ cận: phía Đông Bắc giáp thửa có kí hiệu A2, phía Tây Bắc giáp thửa 665, phía Tây Nam giáp thửa có kí hiệu A3, đường, phía Đông Nam giáp thửa 2067 được giới hạn bởi các điểm 18,27,28,29,30,13,14,15,26,25,24,23,22,17,18 (có sơ đồ kèm theo) thuộc quyền sử dụng quản lý chung của các đồng thừa kế gồm bà Nguyễn Thị S, bà Vương Thị P, ông Vương Đình D, bà Vương Thị N1, anh Vương Như H1 và Vương Như T và các thành viên chi họ.6
+ Chia thừa kế diện tích đất còn lại (trừ diện tích đất nhà thờ 143,2 m²) là 359,1m² cho 05 người thừa kế, mỗi người được hưởng 71,82m².
+ Bà Nguyễn Thị S, bà Vương Thị P giao lại phần thừa kế của mình cho ông Vương Đình D được quyền sử dụng (71,82m² x 2) = 143,64m², có giá trị 718.200.000 đồng (bảy trăm mười tám triệu hai trăm nghìn đồng).
+ Giao cho bà Vương Thị N1 được quyền sử dụng 71,82m² thuộc thửa đất 666, tờ bản đồ số 8 nhưng xin nhận trị giá bằng tiền là (71,82 m² x 5.000.000) = 359.000.000 đồng (ba trăm năm mươi chín triệu đồng) do ông Vương Đình D giao lại.
+ Giao cho anh Vương Như H1 và Vương Như T được quyền sử dụng 24,2m² thuộc thửa đất 666, tờ bản đồ số 8 có tứ cận như sau: phía Đông Bắc giáp đất nhà thờ (A1) dài 17,34m, cạnh phía Tây Nam giáp thửa đất 700 dài 17,72m; cạnh phía Đông Nam giáp đường vào nhà thờ 1,72m, cạnh phía T giáp thửa đất số 665 dài 1,10m được giới hạn bởi các điểm 17,22,23,24,25,26,15,16 (có sơ đồ kèm theo) và nhận trị giá bằng tiền mặt diện tích còn lại 40,8m² (40,8m² x 5.000.000₫) số tiền là 204.000.000 đồng do ông Vương Đình D giao lại.
+ Giao cho ông Vương Đình D được quyền sử dụng thửa đất số 666, tờ bản đồ số 8 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An hiện trạng có diện tích 334,9m² và toàn bộ diện tích 502,3m² đất của bà Nguyễn Thị S giao lại có tứ cận: Phía Đông Bắc giáp đường bê tông dài 27,31m; phía Tây Bắc giáp thửa đất số 665 dài 24,55m; phía Đông Nam giáp thửa đất số 732 dài 33,75m; phía Tây Nam giáp thửa đất có ký hiệu A1 (nhà thờ), đường vào nhà thờ của chi họ có các cạnh gấp khúc, thửa 2067 và thửa 2068 có tổng chiều dài là 39,56m được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 30, 29, 28, 27, 18, 19, 20, 21 (đã bao gồm phần đất của bà S, bà P, bà N1, anh H1 và anh T; có sơ đồ kèm theo). Anh Vương Đình D có nghĩa vụ giao lại cho bà Vương Thị N1 359.100.000 đồng (ba trăm năm mươi chín triệu một trăm nghìn đồng); anh Vương Như H1 và anh Vương Như T 204.000.000 đồng (hai trăm linh tư triệu đồng); kỷ phần anh H1 hưởng 102.000.000 đồng; anh T hưởng 102.000.000 đồng.
Các đương sự có nghĩa vụ, đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm các thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn án phí Dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị S, Vương Thị P; buộc ông Vương Đình D phải chịu 9.830.000 đồng; bà Vương Thị N1 phải chịu 8.977.500 đồng; anh Vương Như H1, Vương Như T mỗi người phải chịu 4.062.500 đồng.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị S tự nguyện chịu toàn bộ.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: anh Vương Như H1, bà Vương Thị N1, bà Trương Thị T1, ông Vương Đình D, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Vương Như T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; các đương sự còn lại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Văn Chắt |
Bản án số 107/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 107/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
