Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HSST

Ngày: 25-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hà Thị Lan;
  2. Ông Lương Minh Côn .

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại hai điểm cầu: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và Công an huyện Đ, tiến hành xét xử theo hình thức trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2023/TLST-HS ngày 09/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXX ngày 10/8/2023, đối với bị cáo:

Bùi Thế D; Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1983;

Nơi cư trú: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Bùi Văn B, sinh năm 1954, trú tại xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; con bà: Đinh Thị Minh L, sinh năm 1954, trú tại Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo có 02 anh, em. D là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bùi Thế D bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên toà.

* Người chứng kiến: Ông Lương Đình T, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

(Vắng mặt có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, tổ công tác của Công an xã M, huyện Đ tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại đường T đoạn thuộc xóm T, xã M, huyện Đ phát hiện một đối tượng nam giới đứng ở lề đường có biểu hiện nghi vấn “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì người nam giới chấp hành khai tên là Bùi Thế D, sinh năm 1983, trú tại xóm L, xã M, huyện Đ, đồng thời D tự giác lấy từ túi quần phía trước đang mặc bên trái ra 01 gói giấy màu vàng bên trong bọc bằng giấy vở học sinh màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (D khai đây là chất ma túy Heroine D1 mua về để sử dụng). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D1, thu giữ vật chứng niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 theo đúng quy định rồi chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định.

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 07/6/2023, Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Bùi Thế D tại xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Cùng ngày, Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K, Công an tỉnh T (PC09) đã tiến hành mở niêm phong vật chứng ký hiệu M1 cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Bùi Thế D. Kết quả: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 lên cân điện tử xác định tổng khối lượng là: 0,230 gam (đã trừ bì), lấy tất cả số chất rắn màu trắng có trong phong bì ký hiệu M1 để làm mẫu giám định, được cho vào phong bì niêm phong có ký hiệu M2. Mẫu giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu M2 dán kín các mép dán được gửi giám định tại phòng PC09 – Công an tỉnh T. Vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong ký hiệu M1 được niêm phong vào bì ký hiệu M3 phục vụ điều tra.

Ngày 07/6/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 174/CSĐT đối với mẫu niêm phong ký hiệu M2 thu của Bùi Thế D, yêu cầu giám định để xác định: Mẫu giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy? Khối lượng thu giữ ban đầu là bao nhiêu?

Tại Bản kết luận giám định số: 792/KL - KTHS ngày 15/6/2023, của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

- Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,230 gam;

H lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Thế D khai nhận:

Là người nghiện chất ma túy, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2023 D đi nhờ xe của một người không quen biết, mục đích đến xóm P, xã P, huyện Đ để mua chất ma túy. D gặp người đàn ông không quen biết hỏi mua Heroine. Qua giao dịch, D mua được một gói chất ma túy, loại Heroine với giá 200.000đ. Sau khi mua xong, D cất gói chất ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của người không quen biết đến khu vực đoạn đường tỉnh lộ 264 thuộc xóm T, xã M, huyện Đ. Khi đang đứng ở lề đường thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 02 (hai) phong bì niêm phong ký hiệu M2, M3, bên trong chứa số ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói. Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý khi xét xử vụ án.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 105/CT - VKS ĐT ngày 09/8/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Bùi Thế D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

- Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.

Xét về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên là người nghiện ma túy.

Tình tiết giảm nhẹ được hưởng: Bị cáo được hưởng 01 tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo; Ngoài ra bị cáo có ông ngoại là Đinh Ngọc V tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nược,được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Thế D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thế D từ 18 đến 24 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: Số Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án và phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo và đại diện Viện kiểm sát huyện Đ, người liên quan không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[1.2]. Người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người chứng kiến vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định của pháp luật.

[2]. Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Bùi Thế D khai nhận là người mới nghiện ma túy. Hàng ngày bị cáo thường tự đi nhờ xe mua ma túy về sử dụng. Việc mua ma túy thường mua của người không quen biết mang về nhà tự sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể. Ngày 07/6/2023, bị cáo đi nhờ xe đến địa điểm xã P, huyện Đ, mua của người không quen biết một gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000đ, mục đích mua để sử dụng. Khi mua xong trên đường về đến khu vực ngã ba đường rẽ đi huyện P, thuộc xóm T, xã M để mua thuốc uống thì bị Tổ công tác Công an xã M làm nhiệm vụ bắt quả tang, bị cáo đã tự nguyện giao nộp gói ma túy cho Công an. Việc bắt quả tang, cân trọng lượng ma túy có trọng lượng 0,230 gam bị cáo xác định hoàn đúng sự thật và được chứng kiến cân trọng lượng cũng như thông báo kết luận giám định về loại, chất ma túy. Quá trình thực hiện việc mua ma tuý, không có đồng phạm cùng tham gia, thực hiện với bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Thế D tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Thế D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,230 gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã M, huyện Đ bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo cũng xác định mua ma tuý để phục vụ nghiện, không có mục đích mua bán.

[3]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Bùi Thế D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroine, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam...."

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (loại Heroine) bị cáo tàng trữ được giám định có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất tuyệt đối cấm hoặc chỉ sử dụng trong y học, được quy định 4 danh mục trong Nghị định.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, bởi Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình bản thân bị cáo, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma tuý là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, và của toàn xã hội. Việc mở phiên toà xét xử đối với bị cáo là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn có ông ngoại tên là Đinh Ngọc V tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3. Do đó, hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo một thời gian nhất định để làm gương răn đe chung.

[6].Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.

[8]. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là 0,220 gam mẫu M2, các vật chứng khác đã thu giữ cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[9]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10]. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Bùi Thế D, theo D khai mua của một người đàn không biết tên, địa chỉ tại khu vực xóm P, xã P và người đàn ông cho D đi nhờ xe. Do không xác định dược lai lịch địa chỉ của người bán ma túy cho D cũng như người cho đi nhờ xe nên không xác định là đồng phạm với bị cáo trong vụ án và không có căn cứ điều tra, xử lý, kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    Bị cáo Bùi Thế D 20 (Hai mươi) tháng tù.

    Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/6/2023.

    * Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Thế D 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Bùi Thế D.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ký hiệu M2, M3 còn nguyên tình trạng niêm phong. (Theo biên bản đóng gói, niêm phong giao nhận lại đối tượng giám định ngày 15/6/2023, giữa Phòng K Công an tỉnh T với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ghi: Hoàn lại 0,220 gam mẫu M2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong ký hiệu M2).

    (Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 09/8/2023).

  5. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Đa Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Bùi Thế D phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

  6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên toà. Báo cho biết bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS nhân dân huyện Đại Từ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Đại Từ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2023/HSST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 107/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thế D Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger