|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:107/2023/HS-ST Ngày 25 tháng 12 năm 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tuấn |
| Thẩm phán: | Bà Võ Thị Trầm |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Xuân Hải |
| Ông Trần Văn Thành | |
| Ông Đoàn Minh Long |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lữ Xuân P; tên gọi khác: Không; sinh năm 1994 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ 6 thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ L và bà Võ Thị Mỹ N; có vợ: Hồ Thị T và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Xuân T1; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Số A đường H nối dài, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T2 và bà Trịnh Thị Kim N1; có vợ: Lê Thị Phi T3 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lữ Xuân P theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Đặng Trường T4 –Văn phòng luật sư Đặng Văn P1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T1 theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Vũ Thị A – Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lương Duy P2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn A, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Mai Văn L1, sinh năm: 1964; địa chỉ: C đường F, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Đỗ Ngọc H, sinh năm: 1981; địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lữ Xuân P và Lương Duy P2 cùng có quan hệ tình cảm yêu đương với Trần Thị Thanh N2 nên cả hai xảy ra mâu thuẫn. Tối ngày 12/01/2023, Xuân P đang làm việc tại quán C ở số A đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa thì Duy P2 nhiều lần đi xe máy qua lại quán cà phê. Xuân P cho rằng Duy P2 đến gây sự nên đã nhắn tin cho Nguyễn Xuân T1 là chủ quán cà phê K nhờ chở đi tìm Duy P2 để giải quyết mâu thuẫn thì T1 đồng ý.
Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Vairo biển kiểm soát 79N2-876.98 đi tới quán gặp Xuân P rồi cả hai cùng đi tìm Duy P2. Trước khi đi, Xuân P có đem theo 01 con dao Thái lan bỏ vào trong túi xách đeo trước ngực. Khi cả hai đi đến khu vực Trường P3 ở số A đường P, phường V, thành phố N thì bắt gặp Duy P2 đang ngồi trên xe mô tô dựng bên lề đường. Xuân P nói T1 dừng xe lại rồi Xuân P chạy bộ tới chỗ Duy P2, rút dao đâm 01 nhát vào ngực nhưng Duy P2 né được. Xuân P đâm tiếp 01 nhát thứ hai thì trúng hông bên trái của Duy P2 làm Duy P2 hoảng sợ bỏ chạy vào trong Trường trung học phổ thông P3 trốn. T1 giật lấy dao của Xuân P cầm trên tay rồi điều khiển xe mô tô chở Xuân P đuổi theo Duy P2. Khi đến trước cổng Trường trung học phổ thông P3, cả hai bị ông Mai Văn L2 là bảo vệ của trường N3 không cho vào trong nên cả đựng ngoài chửi bới. T1 cầm dao chĩa về hướng D đang ngồi và nói “vào đâm chết mẹ nó đi”. Lúc này, giáo viên trong trường đi ra phía cổng trường thì T1 và Xuân P bỏ đi; Duy P2 được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh K, đến ngày 19/01/2023 thì xuất viện.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 37 ngày 19/01/2023 của Bệnh khoa tỉnh Khánh Hòa xác định Lương Duy P2 bị vết thương hông trái kích thước 10x4cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 260 ngày 27/01/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Vùng hông trái có 01 vết thương kích thước trung bình (vết thương đã được bệnh viện xử trí). Tỷ lệ thương tật: 02% (Áp dụng D, chương 8, mục I.2)
- + Vùng bụng đường giữa trên dưới rốn có 01 vết thương kích thước trung bình (vết thương phẫu thuật đã được bệnh viện xử trí). Tỷ lệ thương tật: 02% (Áp dụng Bảng 1, chương 8, mục I.2)
- + Vùng hố chậu phải đang đặt ống dẫn lưu (bệnh viện xử trí). Tỷ lệ thương tật 01% (Áp dụng Bảng 1, chương 8, mục I.1)
- + Thủng đại tràng trái 01 lỗ đã được xử trí. Tỷ lệ thương tật 38% (Áp dụng Bảng 1, chương 4, mục IV.1.1)
- Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Lương Duy P2 là: 41%.
Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKSKH-P1 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, truy tố bị can Lữ Xuân P, Nguyễn Xuân T1 về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lữ Xuân P từ 08 năm đến 10 năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 06 đến 08 năm tù về tội “Giết người”.
+ Về bồi thường dân sự. Bị cáo Nguyễn Xuân T1 đã bồi thường cho bị hại Lương Duy P2 53.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân T1 bồi thường thêm nên không xét. Bị cáo Lữ Xuân P đã bồi thường cho bị hại Lương Duy P2 35.000.000 đồng. Bị hại Lương Duy P2 yêu cầu bị cáo Lữ Xuân P tiếp tục bồi thường cho bị hại 45.000.000 đồng. Bị cáo Lữ Xuân P đồng ý bồi thường. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo với bị hại phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường trên.
+ Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái lan dài khoảng 20cm vì không còn giá trị sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Vario biển kiểm soát 79N2-876.98 của Nguyễn Xuân T1.
+ Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lữ Xuân P: Bị cáo không có ý định tước đoạt tính mạng của bị hại vì sau khi đâm trúng bị hại đã dừng lại không đâm nữa và bị bị cáo T1 giật dao và chở bị cáo P đuổi theo. Trong vụ án này cũng có một phần lỗi của bị hại là đã từng đánh bị cáo, đến chỗ làm để khiêu khích bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đã sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại 35.000.000 đồng, tại phiên tòa đồng ý bồi thường tiếp cho bị hại 45.000.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội chưa đạt, Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định
tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 57 và Điều 54 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
+ Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T1: Đồng ý với tội danh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T1. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại và được bị hại viết đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội chưa đạt, gia đình bị cáo có công cách mạng, bố, mẹ ông, bà được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, hiện tại bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57 và Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
+ Các bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt không lý do. Xét thấy, hồ sơ đã có lời khai và việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật sư, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Lữ Xuân P và Nguyễn Xuân T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/01/2023, trước khu vực Trường P3 ở số A đường P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Xuân T1 đã sử dụng xe mô tô chở Lữ Xuân P đi đánh Lương Duy P2. Khi gặp Lương Duy P2, Lữ Xuân P đã dùng dao Thái lan đâm 01 nhát hướng vào ngực nhưng Duy P2 né được, bị cáo P2 đâm tiếp 01 nhát thứ hai thì trúng hông bên trái của Lương Duy P2, gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật 41%.
Hành vi của các bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật. Do đó, Cáo trạng số 117/CT-VKSKH-P1 ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Khánh Hòa truy tố các bị cáo Lữ Xuân P và Nguyễn Xuân T1 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét vai trò, hành vi phạm tội của các bị cáo:
Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống nhưng bị cáo P đã dùng dao là hung khí nguy hiểm cố ý định và đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại Lương Duy P2, có khả năng gây tử vong cao, bị hại không chết là ngoài ý muốn của các bị cáo. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường sức khỏe, tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an toàn trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
4.1. Đối với bị cáo Lữ Xuân P: Bị cáo P là người chuẩn bị hung khí, chủ động đi tìm Lương Duy P2 để giải quyết mâu thuẫn và trực tiếp đâm bị hại Lương Duy P2. Trong vụ án này bị cáo là người có vai trò tích cực, quyết liệt và có hành vi nguy hiểm hơn bị cáo T1. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn bị cáo Nguyễn Xuân T1.
4.2. Đối với bị cáo Nguyễn Xuân T1: Sau khi được Lữ Xuân P nhờ rủ đi giải quyết mâu thuẫn đã đồng ý chở P đi. Sau khi thấy Lữ Xuân P đâm Lương Duy P2, Lương Duy P2 hoảng sợ bỏ chạy nhưng bị cáo T1 giật dao của Lữ Xuân P và điều khiển xe mô tô chở bị cáo P đuổi theo bị hại để truy sát bị hại, thể hiện sự thống nhất ý chí với bị cáo P. Do đó, cần xử phạt xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, vai trò của các bị cáo trong vụ án có phần hạn chế hơn so với vị cáo P, do đó, xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp hơn bị cáo P.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
[5.1] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[5.2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Lữ Xuân P và Nguyễn Xuân T1 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Xuân T1 có cha, mẹ, ông, bà được tặng thưởng nhiều huân, huy chương. Tại phiên tòa đồng ý bồi thường toàn bộ yêu cầu của bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57, của Bộ luật hình sự năm 2015 giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Đối với bị cáo T1, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò trong vụ án có phần hạn chế so với bị cáo P. Do đó, cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Xuân T1 đã bồi thường cho bị hại Lương Duy P2 53.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân T1 bồi thường thêm
nên không xét. Bị cáo Lữ Xuân P đã bồi thường cho bị hại Lương Duy P2 35.000.000 đồng. Bị hại Lương Duy P2 yêu cầu bị cáo Lữ Xuân P tiếp tục bồi thường cho bị hại 45.000.000 đồng. Bị cáo Lữ Xuân P đồng ý bồi thường. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo với bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường trên.
[7] Về vật chứng:
Cơ quan điều tra có thu giữ:
- - 01 con dao Thái lan dài khoảng 20cm, là hung khí của các bị cáo dùng để gây án và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô hiệu Vario biển kiểm soát 79N2-876.98 thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân T1. Xét thấy đây là phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lữ Xuân P 10 (M) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/4/2023.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 07 (B) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/4/2023.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 213; Điều 246 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 587; Điều 591 Bộ luật Dân sự,
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Lữ Xuân P với bị hại Lương Duy P2; Bị cáo Lữ Xuân P có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lương Duy P2 45.000.000 đ (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Quy định: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao Thái lan dài khoảng 20 cm
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Vario biển kiểm soát 79N2-876.98 của bị cáo Nguyễn Xuân T1.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K với Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lữ Xuân P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Xuân T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 107/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự về tội "giết người"
- Số bản án: 107/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giết người
