|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2023/DS-ST Ngày: 06/12/2023 V/v “T/c quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tăng Tài Thủ
- Bà Trần Thúy Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - Tp. Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Tp. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 313/2022/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 936/2023/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H – sinh năm: 1961 (có mặt)
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H1 – sinh năm: 1966
- Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P – sinh năm: 1981 (có mặt)
- Địa chỉ: khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc X – sinh năm: 1956 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn T – sinh năm: 1962 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mỹ N – sinh năm: 1968 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mỹ N1 – sinh năm: 1971 (có mặt)
- Ông Lê Trọng T1 – sinh năm: 1980 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và qua các bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Cha mẹ nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H2 (chết năm 1985) và bà Lê Thị K (chết năm 2015) có tất cả 06 người con. Tài sản của cha mẹ để lại gồm có: phần đất thổ cư tại thửa 1209 lúc còn sống mẹ đã chia cho các con xong, các anh chị em đều cất nhà ở ổn định. Riêng phần đất ruộng diện tích 7.500m², tại thửa 1216 và 1217, tờ bản đồ số 02, tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, khi còn sống bà K có cố đất cho ông Lê Văn T2 (Mận), sau đó chuyển sang cố cho ông Lê Văn H3 (Tèo) với giá 25 chỉ vàng 24k. Sau khi ông H đi bộ đội ở chiến trường K về, vào khoảng năm 2006 ông H đã bỏ ra 25 chỉ vàng 24k để chuộc lại đất từ ông Lê Văn H3 và cho nhiều người thuê canh tác đến nay, người đang thuê đất để canh tác hiện nay là Lê Trọng T1.
Sau khi chuộc lại đất, bà K có chúc ngôn bằng miệng chia thửa 1217 này cho các con, không có lập thành văn bản, cụ thể: chia cho ông H 01 công tầm đo là 1296m², bà N (em thứ 6) và bà N1 (em út) mỗi người 0,5 công là 648m². Trước đây, đất do bà K đứng tên sổ mục kê, trong quá trình sử dụng giấy đất bị thất lạc, bà K già yếu không thể đứng tên lại nên các anh chị em cùng thống nhất để cho Nguyễn Thanh H1 đại diện đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2010 ông H1 đã tách phần đất thổ xong nhưng thời gian đã lâu mà ông H1 không chịu tách chia đất ruộng cho các anh chị em. Nay hoàn cảnh ông H đang gặp khó khăn, là thương binh 3/4 bị cụt mất một chân, về địa phương chỉ có 01 công đất ruộng mẹ chia cho nói trên để sinh sống, ngoài ra không còn đất ruộng nào khác.
Cho nên nay ông H có yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
- Yêu cầu được công nhận quyền sử dụng diện tích đất 1296m², loại đất trồng lúa (ký hiệu B + C) trong tổng số 3558m² đất tại thửa 1217, tờ bản đồ số 02, tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, do ông Nguyễn Thanh H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ00299, cấp ngày 31/11/2010.
- Buộc ông H1, ông T, bà X, bà N và bà N1 cùng có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông H 25 chỉ vàng 24k, là số vàng mà ông H đã trả cho ông Lê Văn H3 để chuộc lại thửa đất 1216, 1217.
Đến phiên hòa giải ngày 15/11/2023, ông H có đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với 25 chỉ vàng 24k do chưa xác định được yêu cầu cụ thể các anh chị em mỗi người phải trả lại bao nhiêu vàng, sau này sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.
Đại diện bị đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày:
Ông Nguyễn Thanh H1 là chủ sử dụng diện tích đất 3558m², loại đất LUC, tại thửa 1217, tờ bản đồ số 02, tọa lạc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, do ông Nguyễn Thanh H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ00299, cấp ngày 31/11/2010.
Vào ngày 05/8/2006, bà Lê Thị K bệnh nặng nên ông H1 có cố diện tích 2700m², trong tổng số 3558m² tại thửa 1217 cho ông Lê Văn T2 (tên gọi khác là M) với giá 25 chỉ vàng 24k, hai bên có làm giấy tay cố đất. Đến nay ông H1 vẫn chưa có khả năng chuộc lại số đất trên. Đến khi ông H khởi kiện ông H1 đến Ủy ban nhân dân phường T thì ông H1 mới biết là ông H đã xuất vàng ra chuộc lại đất và hiện đang giao cho ông Lê Trọng T1 canh tác.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông H1 không đồng ý chia cho ông H diện tích đất 1296m² bởi vì thửa đất 1217 là tài sản riêng của ông H1 căn cứ theo “Bản thỏa thuận của hộ gia đình về việc xác nhận tài sản” ngày 27/7/2010, ông H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Đối với yêu cầu trả vàng thì ông H1 cố đất cho ông T2 thì ông H1 sẽ chịu trách nhiệm trả vàng cho ông T2, việc ông H tự ý xuất vàng ra chuộc đất với ông Lê Văn H3 thì ông H1 không biết và không chịu trách nhiệm. Bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với việc nguyên đơn đang cho ông Lê Trọng T1 thuê một phần thửa đất 1217 để canh tác.
Những người liên quan Nguyễn Thị Ngọc X, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Mỹ N và Nguyễn Thị Mỹ N1 thống nhất trình bày:
Các ông bà thống nhất theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn H là đúng. Nguồn gốc đất đang tranh chấp của mẹ là Lê Thị K để lại, không phải là tài sản của ông H1 tạo lập. Ông H1 chỉ đại diện hộ gia đình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc ký tên xác nhận tài sản riêng của ông H1 theo “Bản thỏa thuận của hộ gia đình về việc xác nhận tài sản” ngày 27/7/2010 là do bị nhầm lẫn, không đọc lại rõ nội dung biên bản. Nay các ông bà yêu cầu ông H1 phải có trách nhiệm tách giấy chia đất cho ông H theo như di nguyện của mẹ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Trọng T1 trình bày:
Vào khoảng năm 2020, ông Nguyễn Văn H có thỏa thuận cho ông T1 thuê thửa đất ruộng số 1217 để canh tác trồng lúa, giá thuê là 4.500.000 đồng/năm. Hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không có lập hợp đồng thuê, không có thời hạn thuê cụ thể, ông T1 cứ tiếp tục canh tác, khi nào ông H muốn dừng việc cho thuê thì báo trước một thời gian. Nay ông T1 không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập để hòa giải, xét xử.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã động viên hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa hôm nay: Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H cho rằng do trước đây các anh chị em còn thuận thảo nên đã đồng ý ký tên cho ông H1 đại diện đứng tên toàn bộ các thửa đất của cha mẹ. Đối với văn bản xác định tài sản riêng của hộ gia đình thì các anh chị em không đọc lại kỹ nội dung mà đã ký tên vào. Ông H1 đã tách phần đất thổ cho các anh chị em cho nên nay yêu cầu ông H1 phải tiếp tục tách chia đất ruộng theo như di nguyện của mẹ lúc còn sống.
Đại diện bị đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày: Thửa đất 1217 đang tranh chấp, trước đây bà Lê Thị K không có đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà do ông H1 đứng tên và được cấp giấy từ năm 2000, bà K và các anh chị em ông H1 không ai phản đối, tranh chấp, khiếu nại. Quá trình sử dụng đất, vào năm 2010 ông H1 có điều chỉnh lại diện tích và có văn bản của tất cả những người trong hộ gia đình xác định là tài sản riêng của ông H1, do đó ông H1 có toàn quyền sử dụng, định đoạt. Công văn của Ủy ban nhân dân quận T cũng xác định việc cấp giấy cho ông H1 đứng tên tại thửa 1217 là đúng nguồn gốc, đối tượng, trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do ông H1 chưa có vàng để chuộc lại đất nên bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với việc ông H đang cho ông T1 thuê đất để canh tác.
Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:
- - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng là đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi chia 1296m² đất LUC tại thửa 1217 vì chưa đủ cơ sở. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu trả lại 25 chỉ vàng 24k do nguyên đơn rút lại yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét mối quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.
[2] Về thủ tục tố tụng: Xét việc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và xin xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Văn H cho rằng thửa đất 1217 là tài sản của cha mẹ để lại, khi còn sống mẹ đã chia cho các con nhưng chỉ nói miệng, không lập thành văn bản. Hội đồng xét xử xét thấy, qua trích lục hồ sơ địa chính và nội dung công văn số 2909/UBND-NC ngày 30/10/2023 của Ủy ban nhân dân quận T xác định nguồn gốc đất tại các thửa 1209, 1216 và 1217 do hộ bà Lê Thị K đăng ký kê khai đứng tên sổ bộ địa chính vào năm 1990 nhưng bà K chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2000, hộ bà K thống nhất cử ông Nguyễn Thanh H1 đại diện đứng tên các thửa đất 1209, 1216, 1217 và ông H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000820 ngày 07/12/2000. Đến năm 2010, hộ ông H1 lập Bản thỏa thuận của hộ gia đình về việc xác nhận tài sản riêng tại các thửa đất 1209, 1216 và 1217, đồng thời thống nhất giao cho ông H1 được toàn quyền sử dụng các thửa đất nêu trên. Do đó việc Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ00299 ngày 30 tháng 11 năm 2010 cho ông Nguyễn Thanh H1 là đúng theo nguồn gốc, đối tượng, trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù nguồn gốc đất là của bà Lê Thị K để lại nhưng quá trình sử dụng đất bà K không có kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà K và tất cả các anh chị em của ông H1 thống nhất để cho ông H1 đăng ký kê khai đứng tên, quá trình sử dụng đất không ai tranh chấp khiếu nại liên quan. Đến ngày 27/7/2010 có “Bản thỏa thuận của hộ gia đình về việc xác nhận tài sản”, nội dung tất cả thành viên trong hộ thống nhất xác định các thửa đất 1209, 1216 và 1217 là tài sản riêng của ông H1, văn bản có chứng thực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T đúng theo quy định. Khi còn sống bà K có nói miệng chia đất cho các con nhưng do bà K không có đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà K không có quyền định đoạt tặng cho. Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông H1 phải chia cho nguyên đơn diện tích đất 1296m², loại đất trồng lúa (ký hiệu B + C) tại thửa 1217 là chưa đủ cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu tranh chấp đòi lại số vàng cố đất là 25 chỉ vàng 24k, do ông H đã có đơn rút lại yêu cầu khởi kiện này nên Tòa án đình chỉ giải quyết. Ông H có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết lại thành một vụ kiện khác khi có yêu cầu.
[4] Về chi phí đo đạc, định giá: Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án đã thành lập Hội đồng để đo đạc, định giá phần đất tranh chấp với tổng chi phí 8.000.000 đồng, phía nguyên đơn đã tạm nộp trước. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, căn cứ theo Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí, công nhận đã nộp xong.
[5] Về án phí sơ thẩm dân sự: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật, tuy nhiên xét ông Nguyễn Văn H thuộc trường hợp người cao tuổi (trên 60 tuổi), căn cứ quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nguyên đơn được miễn nộp tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 157, 165, 217, 218, 219, 228 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H về việc buộc ông Nguyễn Thanh H1 phải chia cho nguyên đơn diện tích đất 1296m², loại đất LUC (ký hiệu B + C) tại thửa 1217, do ông Nguyễn Thanh H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn và những người có liên quan trả lại 25 chỉ vàng 24k. Ông H có quyền khởi kiện lại giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
Về các chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn H phải nộp số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), công nhận đã nộp xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H được miễn nộp tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN TRUNG HIẾU |
Bản án số 107/2023/DS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 107/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia tài sản do cha mẹ để lại
