Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/DS-PT

Ngày: 23 - 10 - 2023.

V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng đất,

đòi lại tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam

Bà Thái Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 82/2022/TLPT-DS ngày 25/10/2022 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023/QĐXXPT-DS ngày 25 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 454/2023/QĐPT-DS ngày 03/10/2023, của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1942; Nơi cư trú: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H; sinh năm 1983; Nơi cư trú: số D, ngõ B, Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1999, có mặt;

Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1996, vắng mặt;

Cùng cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thanh N: Anh Nguyễn Văn V. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975, có mặt

Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1978; vắng mặt

Cùng cư trú: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị L1: Ông Nguyễn Văn L. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L: Bà Trần Thị Hồng Y, sinh năm 1996; Nơi cư trú: số B đường P, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bà Phạm Thị T, sinh năm 1937; nơi cư trú: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1942; Nơi cư trú: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm số 11/2022/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2022 về việc“Tranh chấp Quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, vụ án có nội dung:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 11 năm 2021 trong quá trình tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T cũng như người đại diện theo ủy quyền đều trình bày:

Ngày 02 tháng 4 năm 2018 ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cho vợ chồng ông bà với giá 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 ngày 03 tháng 5 năm 2018 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T. Thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất có một ngôi nhà trên đất, nhà cấp 4, xây gạch táp lô. Mọi thủ tục làm hồ sơ chuyển nhượng là do ông L tự đi làm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai, sau khi ông L làm xong thủ tục ông C, bà T chỉ là người ký vào hồ sơ. Do sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông bà chưa có nhu cầu sử dụng nên đã cho ông L mượn để làm ăn và khi cho ông L mượn ông C có nói với ông L khi nào ông bà có nhu cầu thì sẽ lấy lại. Sau 03 tháng do có nhu cầu lấy lại nhà và đất để cho con trai ông ở nên ông C có đến trao đổi với ông L về việc lấy lại nhà và đất nhưng ông L không đồng ý và xin khất nhiều lần, ông L muốn lấy lại đất và nhà đã bán cho vợ chồng ông và trả cho vợ chồng ông số tiền 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu) nhưng ông L đòi trả nhiều lần nên ông bà không đồng ý. Hiện nay trên thửa đất mà ông bà đã nhận chuyển nhượng của ông L, bà L1 có ngôi nhà đãđược tân trang lại và các công trình khác là do anh V, chị N ở, tạo lập từ năm 2019 cho đến nay. Nay do có nhu cầu sử dụng nhà và đất nên ông bà yêu cầu anh V, chị N trả lại toàn bộ diện tích thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn C và Phạm Thị T. Còn tài sản anh V và chị N đã xây dựng và có cải tạo thêm một số tài sản trên thửa đất của ông bà thì ông bà đồng ý nhận và trích giá trị tài sản trên đất theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản. Vì thời điểm mà anh V, chị N sửa sang và xây dựng một số tài sản trên thửa đất của gia đình ông, ông có biết nhưng do tuổi cao sức yếu nên không đi lại được cho nên ông xin chịu trách nhiệm về điều này.

Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L2 về yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02 tháng 4 năm 2018 giữa ông Nguyễn Văn L, bà Hoàng Thị L1 và ông Nguyễn Văn C, bà Phạm Thị T là vô hiệu; đồng thời tuyên hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 được Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 03 tháng 05 năm 2018 đối với thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn C và Phạm Thị T thì ông bà không đồng ý. Vì giữa vợ chồng ông bà và vợ chồng ông L, bà L1 thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất nói trên do ông L, bà L1 tự nguyện. Hiện nay thửa đất trên đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà theo đúng quy định của pháp luật. Trước thời điểm ký Hợp đồng chuyển nhượng ông L bà L1 có làm giấy cam kết ngày 29 tháng 3 năm 2018 với nội dung: “...Vợ chồng tôi có thế chấp tài sản gắn liền với đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn L và Hoàng Thị L1 tại ngân hàng N1. Giờ điều kiện khó khăn không trả được. Vậy tôi cùng vợ chuyển cho ông C bỏ số tiền mà chúng tôi đã thế chấp bìa thửa đất 89, tờ bản đồ 30, địa chỉ xóm B, xã N mang tên Nguyễn Văn L để về làm thủ tục sang tên cho ông Nguyễn Văn C. Trong thời gian thỏa thuận nếu tôi không có tiền chuộc lại thì cái tài sản đó ông C có quyền sang tên và bán. Không kiện cáo”. Như vậy, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên thì ông C vẫn cho ông L, bà L1 thời gian 03 tháng để chuộc lại theo giấy cam kết ngày 01 tháng 4 năm 2018 mà hai bên đã ký. Nhưng đã nhiều năm trôi qua ông L, bà L1 không chuộc lại nên ông Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và không trái pháp luật nên ông không đồng ý Hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà đã được nhà nước công nhận.

Về số tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản ông bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn V và đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày: Anh không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Yêu cầu vợ chồng anh phải trả toàn bộ thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An mà anh chị đã được bố mẹ cho ra ở riêng và ông C, bà T giao lại số tiền chênh lệch trị giá tài sản trên đất. Việc vay mượn hay chuyển nhượng thửa đất nói trên giữa ông C, bà T và bố mẹ anh là ông L, bà L1 thì anh chị hoàn toàn không biết. Khoảng tháng 09 năm 2018 sau khi anh cưới vợ thì vợ chồng anh được bố mẹ cho ra ở riêng tại thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Khi về ở trên thửa đất đã có một ngôi nhà được xây bằng gạch táp lô, trên lợp giàn tôn diện tích cụ thể thì anh không biết (nay là ngôi nhà chính mà anh đã cải tạo ốp gạch và lát gạch, đồ bằng) như Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ. Cùng thời điểm khi đến ở trên thửa đất tranh chấp thì vợ chồng anh có sửa lại nhà, ngoài thì da trát còn bên trong thì ốp gạch và sơn. Ngoài ra vào khoảng giữa năm 2019 vợ chồng anh còn sửa thêm hai ki ốt và bờ tường bao xung quanh và xây toàn bộ một ngôi nhà diện tích là 82m² để sử dụng như Tòa án đã về xem xét thẩm định tại chỗ. Theo ông C trình bày trên thửa đất có một ngôi nhà cấp 4, xây gạch táp lô hiện nay vợ chồng anh đang sử dụng làm ki ốt bán quần áo. Việc vợ chồng anh xây dựng và sửa sang nhà cửa ông C có biết nhưng không nói gì. Vợ chồng anh đã ở từ cuối năm 2018 đến nay nên anh chị không đồng ý trả lại thửa đất nói trên theo yêu cầu của nguyên đơn.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L2 cũng như người đại diện theo ủy quyền đều thống nhất trình bày:

Năm 2018 do ông bà đang có khoản nợ tại ngân hàng N1 - chi nhánh huyện N đến hạn phải trả và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp được thế chấp tại Ngân hàng để đảm bảo khoản vay cho nên ông bà có vay của ông C, bà T số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) để trả số tiền trên. Đồng thời ông bà làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An mang tên ông L, bà L2 cho ông C bà T. Trước khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông bà có làm bản cam kết ngày 29 tháng 3 năm 2018 với nội dung: “Vợ chồng tôi có thế chấp tài sản gắn liền với đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn L và Hoàng Thị L1 tại ngân hàng N1. Giờ điều kiện khó khăn không trả được. Vậy tôi cùng vợ chuyển cho ông C bỏ số tiền mà chúng tôi đã thế chấp bìa thửa đất 89, tờ bản đồ 30, địa chỉ xóm B, xã N mang tên Nguyễn Văn L để về làm thủ tục sang tên cho ông Nguyễn Văn C. Trong thời gian thỏa thuận nếu tôi không có tiền chuộc lại thì cái tài sản đó ông C có quyền sang tên và bán. Không kiện cáo”. Giấy cam kết ngày 01 tháng 4 năm 2018 với nội dung: “...Ông C bỏ ra 500.000.000 đồng để rút số đỏ trong ngân hàng cho anh Nguyễn Văn L, đồng thời ông Nguyễn Văn C được làm thủ tục sang tên, trong thời gian 3 tháng. Nếu ông Nguyễn Văn L không có tiền chuộc thì ông C có quyền bán hoặc chuyển nhượng. Còn nếu ông L có số tiền 500.000.000 đồng thì ông C sẽ cho chuộc lại”. Vì vậy, ông L, bà L1 cho rằng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất nói trên là giả tạo để che giấu hợp đồng vay tài sản giữa ông L và ông C với số tiền vay là 500.000.000 đồng. Hợp đồng vay tài sản hai bên có lập thành văn bản nhưng hiện nay ông C đang giữ bản gốc nên ông bà không cung cấp bản gốc cho Tòa án được nhưng tại đơn khiếu nại ngày 20 tháng 11 năm 2020 do ông C viết, biên bản làm việc ngày 15 tháng 12 năm 2020, biên bản làm việc ngày 15 tháng 4 năm 2021 ông C thừa nhận ông L vay ông C số tiền 500.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử sử dụng đối với thửa đất số 98, tờ bản đồ số 30 mang tên ông L và bà L1. Tại buổi làm việc ông C yêu cầu ông L trả số tiền vay là 500.000.000 đồng và 200.000.000 đồng nợ cũ và 250.000.000 đồng tiền lãi, tổng số tiền ông L phải trả là 950.000.000 đồng. Ông L xin bớt 150.000.000 tiền lãi nhưng ông C không đồng ý nên ông C mới khởi kiện ra Tòa. Vì các lý do trên nên ông bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông C cho nên ông L đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L, bà Hoàng Thị L1 với ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T ngày 02 tháng 4 năm 2018 là vô hiệu; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 được Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 03 tháng 05 năm 2018 đối với thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn C và Phạm Thị T.

- Kết quả Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc thu thập tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện N: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn C và Phạm Thị T.

Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất tranh chấp. Kết quả được phản ánh bằng biên bản và sơ đồ bản vẽ kèm theo lưu tại hồ sơ vụ án nhưsau:

Diện tích đất thực tế anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N đang sử dụng là 262m². Ngoài ra, khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ kết hợp với cơ quan chuyên môn về đo đạc diện tích đất đang tranh chấp, bản trích đo hiện trạng ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện N thể hiện hiện trạng đất đang tranh chấp tại các điểm:

Tuy nhiên, diện tích của thửa đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 262m² cụ thể có các cạnh:

  • Phía Bắc giáp thửa đất số 87 có kích thước: 24.13m;
  • Phia Nam giáp đường có kích thước: 24.13m;
  • Phía Đông giáp đường H - Đồng có kích thước: 10.41m;
  • Phía Tây giáp đường có kích thước: 10.41m (có sơ đồ kèm theo).

Căn cứ vào Biên bản định giá tài sản ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện N, tỉnh Nghệ An thửa đất có giá là 8.000.000đồng/m²

Xác định các công trình, vật kiến trúc xây dựng trên thửa đất đang tranh chấp có kích thước và được Hội đồng định giá như sau:

  • + 01 ngôi nhà 1 tầng xây năm 2018 trị giá 302.252.000 đồng;
  • + 01 nhà vệ sinh xây năm 2018 trị giá 16.158.000 đồng;
  • + 01 hầm bể phốt xây năm 2018 trị giá còn lại 26.003.000 đồng;
  • + Mái tôn trị giá 39.780.000 đồng;
  • + Tường xây táp lô làm năm 2018 trị giá 9.864.000 đồng;
  • + Nền láng xi măng làm năm 2018 trị giá 10.800.000 đồng;
  • + Trần ốp nhựa mức hỗ trợ để di chuyển là 3.243.000 đồng.
  • + Cửa cổng mức hỗ trợ để di chuyển là 2.079.000 đồng;
  • + 02 cửa cuốn mức hỗ trợ để di chuyển là 1.161.000 đồng.
  • + Mương thoát nước trị giá 9.975.000 đồng;
  • + Móng tường rào trị giá 45.339.910 đồng;
  • + 16 trụ tường bê tông cốt thép thành tiền 6.177.000 đồng
  • Tổng giá trị tài sản trên đất: 472.831.910 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án do các đương sự không ai có yêu cầu định giá lại thửa đất và các tài sản trên đất. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào giá mà Hội đồng định giá nêu trên để giải quyết.

Với nội dung trên bản án dân sự sơ thẩm số 11/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc đã căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166, điểm d khoản 2 Điều 227, khoản1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 166, 175, 176 của Bộ luật dân sự năm2015;

Căn cứ vào Điều 26; khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N trả lại cho ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057ngày 03 tháng 5 năm 2018 cho chủ sử dụng Nguyễn Văn C và Phạm Thị T. Vị trí như sau:

  • Phía Bắc giáp thửa đất số 87 có kích thước: 24.13m;
  • Phía Nam giáp đường có kích thước: 24.13m;
  • Phía Đông giáp đường H - Đồng có kích thước: 10.41m;
  • Phía Tây giáp đường có kích thước: 10.41m (có sơ đồ kèm theo).

Ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T có quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên đất bao gồm:

  • + 01 ngôi nhà tầng xây năm 2018 trị giá 302.252.000 đồng;
  • + 01 nhà vệ sinh xây năm 2018 trị giá 16.158.000 đồng;
  • + 01 hầm bể phốt xây năm 2018 trị giá còn lại 26.003.000 đồng;
  • + Mái tôn trị giá 39.780.000 đồng;
  • + Tường xây táp lô làm năm 2018 trị giá 9.864.000 đồng;
  • + Nền láng xi măng làm năm 2018 trị giá 10.800.000 đồng;
  • + Trần ốp nhựa mức hỗ trợ để di chuyển là 3.243.000 đồng.
  • + Cửa cổng mức hỗ trợ để di chuyển là 2.079.000 đồng;
  • + 02 cửa cuốn mức hỗ trợ để di chuyển là 1.161.000 đồng.
  • + Mương thoát nước trị giá 9.975.000 đồng;
  • + Móng tường rào trị giá 45.339.910 đồng;
  • + 16 trụ tường bê tông cốt thép thành tiền 6.177.000 đồng
  • Tổng giá trị tài sản trên đất: 472.831.910 đồng.

Ông C, bà T có nghĩa vụ giao lại cho anh V và chị N số tiền trị giá các tài sản là 472.831.910 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L, bà Hoàng Thị L1 về việc yêu cầu: Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L, bà Hoàng Thị L1 và ông Nguyễn Văn C, bà Phạm Thị T lập ngày 02 tháng 4 năm 2018 là vô hiệu; không chấp nhận yêu cầu: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 được Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 03 tháng 05 năm 2018 đối với thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn C và Phạm Thị T.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 08/8/2022 anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST ngày 29/7/2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An theo hướng không chấp nhận kết quả định giá tài sản do quá thấp, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị Lam L3 đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST ngày 29/7/2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An theo hướng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/4/2018 vô hiệu do giả tạo để che dấu giao dịch dân sự khác, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của người có quyền lợi liên quan.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022 anh Nguyễn Văn V làm đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 16/02/2023 của Hội đồng định giá đã kết luận:

  • + Giá đất theo thị trường 5.000.000đồng/m²
  • + 01 ngôi nhà mái bằng bê tông cốt thép tường xây bằng táp lô có da trát, nền láng xi măng, diện tích khoảng 80m². Hội đồng định giá xác định giá trị còn lại 60% thành tiền 3.566.000đ/m² x 80m² x 60% = 171.168.000 đồng;
  • + Dàn tôn phía trước giá trị còn lại 35% thành tiền 375.000 đồng x 35% x 100,3m² = 13.164.000 đồng.
  • + Hai cánh cửa cổng bằng sắt giá trị sử dụng còn lại 50% thành tiền 1.141.000 đồng x 50% x 9,4m² = 5.362.000 đồng.
  • + Một nhà mái bằng bê tông cốt thép xây dựng năm 2019 diện tích 82,7m² giá trị còn lại 75% thành tiền 4.255.000đồng x 75% x 82,7m² = 263.916.000 đồng.
  • + Gạch ốp diện tích 64m² giá trị sử dụng còn lại 75% thành tiền 324.000 đồng x 75% x 64m² = 15.552.000 đồng.
  • + Dàn tôn 177m² x 375.000đồng x 50% = 33.187.500 đồng.
  • + Hai cánh cửa cổng bằng sắt 1.100.000đồng x 50% x 9,4m² =5.170.000 đồng.
  • + 03 trụ bê tông cao 2,1m, rộng 0,22m thành tiền 272.000 đồng x 50% x 2,1 x 3 = 856.800 đồng.
  • + 10 trụ bê tông cao trung bình 3,2m, rộng 0,22m thành tiền 272.000 đồng x 50% x 3,2 x 10 = 4.352.000 đồng.
  • + Mương thoát nước rộng 0,42m, sâu 0,3m dài 23,4m thành tiền 379.000 đồng x 50% x 23,4m = 4.813.000 đồng.
  • + Tấm đan phía trên mương 576.000 đồng x 50% x 9,828m² = 2.830.000 đồng.
  • + 01 giếng khoan còn 60% trị giá 6.300.000đồng.
  • + Móng đá hộc sâu 2m, rộng 0,5m thành tiền 1.083.000 đồng x 50% x 34,89m² = 18.893.000 đồng.
  • + Bờ rào xây bằng táp lô không da trát 126.000 đồng x 50% x 71,8m² = 4.523.000 đồng.
  • + Trát tường bờ rào 79.000 đồng x 50% x 75m² = 2.962.500 đồng.
  • + Một nhà vệ sinh mái bằng bê tông cốt thép có da trát 3.310.000 đồng x 50% x5m² = 11.585.000 đồng.
  • + Một bếp nấu bên ngoài không nằm trong diện tích nhà có 4 bức tường ốp gạch men diện tích 1,68m², mặt bếp bằng đá granit 3,24m²; Trong đó:Giá trị tường xây 126.000 đồng x 50% x 1,68m² = 105.800 đồng; giá trị gạch ốp làm bếp 307.000đồng x 50% x 9,84m² = 1.496.000 đồng; giá trị bàn đá granitmặt bếp 382.000đồng x 50% x 3,24m² = 619.000đồng
  • + Sân bê tông diện tích 97,7m² x 327.000đồng x 80% = 25.558.000đồng.
  • + Một nhà dạng bán mái, lợp tôn, bên trong có trần nhựa diện tích 32,8m²; trần nhựa 22m² và 01 nhà bán mái diện tích 21,6m², trần nhựa 26m², nền lát gạch men có giá trị:
    • Khung sắt 220.000đồngx 60,8m²x 60 % = 8.026.000đồng; nhựa Amnice 240.000đồng x 101m²x 60% = 14.544.000 đồng; nền gạch men 273.000đồngx 21,6m²x60% =3.538.000đồng; nền đổ thêm 8cm 100.000đồngx 21,6m²x 60% = 1.296.000 đồng; tôn lạnh 475.000đồngx 25,5m²x 60% = 7.268.000đồng; bể phốt 1.912.000đồngx 9m²x 50% = 8.604.000 đồng; 02 cửa cuốn 3.900.000đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bị đơn anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1 thống nhất thỏa thuận: Nguyên đơn giao lại cho bị đơn 750.000.000 đồng, bị đơn được nhận số tiền do nguyên đơn giao lại và có nghĩa vụ giao lại cho nguyên đơn đất và các công trình xây dựng gắn liền với đất nguyên hiện trạng như biên bản định giá và xem xét thẩm định tại chỗ, bị đơn được tháo dỡ các thiết bị gia dụng lắp đặt thêm trong quá trình sử dụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan công nhận đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/4/2018.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn V, chị Nguyễn Thị Thanh N vàông Nguyễn Văn L bà Hoàng Thị Lam L3 trong hạn luật định, nội dung và hình thức đơn phù hợp quy định của pháp luật. Tòa án đã thụ lý để xét xử phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 308, 309, 313 và Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự; Công nhận sự thỏa thuận của cá đương sự, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào: Điều 26; Điều 35, Điều 147, Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, 500, 503 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 99 và Điều 105 Luật Đất đai.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N có nghĩa vụ giao lại thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 ngày 03 tháng 05 năm 2018 cho ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T và giao lại toàn bộ tài sản hiện có trên thửa đất cho ông C và bà T.

Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L2 công nhận đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C, bà Phạm Thị T thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02 tháng 4 năm 2018 giữa ông Nguyễn Văn L, bà Hoàng Thị L1 với ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T.

Ông Nguyễn Văn C, bà Phạm Thị T có nghĩa vụ giao lại cho anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N số tiền 750.000.000 đồng.

Về án phí: Các bên đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà phúc thẩm. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về nội dung vụ án: Nguồn gốc thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L và bà L1 đã thế chấp Ngân hàng nông nghiệp huyện N1 để vay số tiền 500.000.000 đồng, đến hạn ông bà không có khả năng trả nợ. Ngày 02 tháng 4 năm 2018 ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T với giá 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 ngày 03 tháng 5 năm 2018 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T. Thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất có một ngôi nhà trên đất, nhà cấp 4, xây gạch táp lô. Mọi thủ tục làm hồ sơ chuyển nhượng là do ông L tự đi làm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai.

Trước khi làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông L đã viết giấy cam kết ngày 29 tháng 3 năm 2018 với nội dung: “...Vợ chồng tôi có thế chấp tài sản gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn L và Hoàng Thị L1 tại ngân hàng N1. Giờ điều kiện khó khăn không trả được. Vậy tôi cùng vợ chuyển cho ông C bỏ số tiền mà chúng tôi đã thế chấp bìa thửa đất 89, tờ bản đồ 30, địa chỉ xóm B, xã N mang tên Nguyễn Văn L để về làm thủ tục sang tên cho ông Nguyễn V1. Trong thời gian thỏa thuận nếu tôi không có tiền chuộc lại thì cái tài sản đó ông C có quyền sang tên và bán, không kiện cáo”. Tại giấy cam kết ngày 01 tháng 4 năm 2018 có ghi: “Ông Nguyễn Văn C bỏ ra 500.000.000 đồng để rút số đỏ trong ngân hàng cho anh Nguyễn Văn L, đồng thời ông Nguyễn Văn C được làm thủ tục sang tên. Trong thời hạn 03 tháng, nếu anh Nguyễn Văn L không có tiền chuộc thì ông C có quyền bán hoặc chuyển nhượng, còn anh L có số tiền 500.000.000 đồng thì ông C sẽ cho chuộc lại”. Sau khi thực hiện xong Hợp đồng chuyển nhượng ông C vẫn cho vợ chồng ông L sử dụng ngôi nhà và thửa đất nói trên.

Năm 2019 ông Nguyễn Văn L đã cho vợ chồng con trai là anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N ra ở tại ngôi nhà và thửa đất nói trên. Quá trình sử dụng đất vợ chồng anh V đã cải tạo và xây dựng một số công trình trên đất.

[3] Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 89, tờ bản đồ 30, địa chỉ xóm B, xã N,huyện N, tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy CNQSDĐ cho Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1.

Ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1 nguyên là chủ sử dụng thửa đất thừa nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập và ông Nguyễn Văn C, bà Phạm Thị T đối với thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là do ông bà ký và mọi thủ tục làm hồ sơ chuyển nhượng là do ông L thực hiện cùng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời điểm làm thủ tục chuyển nhượng thì thửa đất đang được ông L, bà L1 thế chấp tại ngân hàng N1 chi nhánh huyện N để vay khoản tiền là 500.000.000 đồng. Do ông bà không có tiền trả ngân hàng nên ông L đã đến nhờ ông C bỏ số tiền 500.000.000 đồng để giải chấp, ông L đã viết giấy cam kết ngày 29 tháng 3 năm 2018 với nội dung: “...Vợ chồng tôi có thế chấp tài sản gắn liền với đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn L và Hoàng Thị L1 tại ngân hàng N1. Giờ điều kiện khó khăn không trả được. Vậy tôi cùng vợ chuyển cho ông C bỏ số tiền mà chúng tôi đã thế chấp bìa thửa đất 89, tờ bản đồ 30, địa chỉ xóm B, xã N mang tên Nguyễn Văn L để về làm thủ tục sang tên cho ông Nguyễn Văn C. Trong thời gian thỏa thuận nếu tôi không có tiền chuộc lại thì cái tài sản đó ông C có quyển sang tên và bán, không kiện cáo”. Cũng tại giấy cam kết ngày 01 tháng 4 năm 2018 có ghi: “Ông Nguyễn Văn C bỏ ra 500.000.000 đồng để rút số đỏ trong ngân hàng cho anh Nguyễn Văn L, đồng thời ông Nguyễn Văn C được làm thủ tục sang tên. Trong thời hạn 03 tháng, nếu anh Nguyễn Văn L không có tiền chuộc thì ông C có quyền bán hoặc chuyển nhượng, còn anh L có số tiền 500.000.000 đồng thì ông C sẽ cho chuộc lại”. Như vậy, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên thì ông C vẫn cho ông L, bà L1 thời gian để chuộc lại theo giấy cam kết ngày 01 tháng 4 năm 2018 mà hai bên đã ký nhưng đã nhiều năm trôi qua ông L, bà L1 không có tiền để chuộc lại nên ông C, bà T là chủ sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất đang tranh chấp. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Văn L là người trực tiếp đi làm các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C và bà T. Như vậy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 02 tháng 4 năm 2018 giữa ông C, bà T và ông L, bà L1 là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội. UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 ngày 03 tháng 5 năm 2018 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T là đúng pháp luật.

Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N đang sử dụng đất mà không được sự đồng thuận của ông C, bà T.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bị đơn ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh N do ông V đại diện theo ủy quyền, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1, bà Phạm Thị T đã thỏa thuận thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Xét thấy sự thỏa thuận phù hợp các quy định của pháp luật và hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội. Do đó, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N, ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L2 thỏa thuận chịu án phí Dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 308, 309, 313 và Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự;

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào: Điều 26; Điều 35, Điều 147, Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, 500, 503 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 99 và Điều 105 Luật Đất đai.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N giao lại thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 ngày 03 tháng 05 năm 2018 cho ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T.

Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N đồng ý giao lại toàn bộ tài sản hiện có trên thửa đất do vợ chồng anh cải tạo, xây dựng và trồng trọt theo như hiện trạng đã lập biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/3/2022 và Biên bản định giá tài sản ngày 16/02/2023.

Anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N được nhận số tiền 750.000.000 (Bảy trăm năm mươi triệu) đồng do ông Nguyễn Văn C, bà Phạm Thị T giao lại.

Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L2 công nhận đã chuyển nhượng thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày ngày 02 tháng 4 năm 2018 giữa ông Nguyễn Văn L bà Hoàng Thị L1 với ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T.

Ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T được nhận lại thửa đất số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 250m² tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 093057 ngày 03 tháng 05 năm 2018. Toàn bộ các tài sản trên đất được phản ánh tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/3/2022 và biên bản định giá tài sản ngày 16/02/2023 do anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N giao lại, cụ thể:

  • + 01 ngôi nhà mái bằng bê tông cốt thép tường xây bằng táp lô có da trát, nền láng xi măng, diện tích khoảng 80m². Hội đồng định giá xác định giá trị còn lại 60%;
  • + Dàn tôn phía trước giá trị còn lại 35%
  • + Hai cánh cửa cổng bằng sắt giá trị sử dụng còn lại 50%
  • + Một nhà mái bằng bê tông cốt thép xây dựng năm 2019 diện tích 82,7m² giá trị còn lại 75% .
  • + Gạch ốp diện tích 64m² giá trị sử dụng còn lại 75%
  • + Dàn tôn 177m² x 375.000đồng x 50% = 33.187.500 đồng.
  • + Hai cánh cửa cổng bằng sắt 1.100.000đồng x 50% .
  • + 03 trụ bê tông cao 2,1m, rộng 0,22m giá trị sử dụng còn lại 50% .
  • + 10 trụ bê tông cao trung bình 3,2m, rộng 0,22m giá trị sử dụng còn lại 50% .
  • + Mương thoát nước rộng 0,42m, sâu 0,3m dài 23,4m giá trị sử dụng còn lại .
  • + Tấm đan phía trên mương giá trị sử dụng còn lại 50%.
  • + 01 giếng khoan giá trị sử dụng còn lại 60%.
  • + Móng đá hộc sâu 2m, rộng 0,5m giá trị sử dụng còn lại 50%.
  • + Bờ rào xây bằng táp lô không da trát giá trị sử dụng còn lại 50% .
  • + Trát tường bờ rào giá trị sử dụng còn lại 50%.
  • + Một nhà vệ sinh mái bằng bê tông cốt thép có da trát giá trị sử dụng còn lại 50%.
  • + Một bếp nấu bên ngoài không nằm trong diện tích nhà có 4 bức tường ốp gạch men diện tích 1,68m², mặt bếp bằng đá granit 3,24m² giá trị sử dụng còn lại 50%;
  • + Sân bê tông diện tích 97,7m² giá trị sử dụng còn lại 80%.
  • + Một nhà dạng bán mái, lợp tôn, bên trong có trần nhựa diện tích 32,8m²; trần nhựa 22m² và 01 nhà bán mái diện tích 21,6m², trần nhựa 26m², nền lát gạch men có giá trị giá trị sử dụng còn lại 60 % .

Ông Nguyễn Văn C, bà Phạm Thị T có nghĩa vụ giao lại cho anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N số tiền 750.000.000 (Bảy trăm năm mươi triệu) đồng.

Về Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Văn C thỏa thuận chịu số tiền chi phí thẩm định là: 8.000.000 (Tám triệu) đồng(đã nộp xong).

Anh Nguyễn Văn V thỏa thuận chịu số tiền chi phí thẩm định là: 8.600.000(Tám triệu sáu trăm nghìn) đồng (đã nộp xong).

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.Được trừ 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005418 ngày 17/8/2022 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc phát hành, còn phải nộp 300.000 đồng.

Buộc ông Nguyễn Văn L và bà Hoàng Thị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Được trừ số tiền ông L đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 005331 ngày 13 tháng 5 năm 2022 và 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005419 ngày 12/8/2022 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc phát hành.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các nội dung của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghi Lộc;
  • - TAND huyện Nghi Lộc;
  • - Chi cục THADS H.Nghi Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Nghi Đồng;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký




Nguyễn Anh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2023/DS-PT ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản

  • Số bản án: 107/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DSPT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger