Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐB
TỈNH ĐIỆN BIÊN


Bản án số: 107/2021/HS-ST
Ngày: 13/4/2021.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà:Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thương. Bà Bạc Thị Kiên.

- Thư ký phiên toà:Nguyễn Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1969, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ C, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 3/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Duy (đã chết); con bà: Vũ Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị N - sinh năm 1972 (đã ly hôn); Bị cáo chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 09/12/2020, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ, ngày 09/12/2020, Nguyễn Văn B đi bộ một mình từ nhà ở thôn Đ C, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên đem theo 1.200.000 đồng với mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực nghĩa trang thuộc Trại lúa, xã Thanh An, huyện Đ B, Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ ở đâu). Bị cáo hỏi người đàn ông đó: “Có Hồng phiến bán không, bán cho 1.200.000 đồng?”. Người đàn ông đó nói: “Có, đưa tiền đây”. Bị cáo lấy 1.200.000 đồng ra đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho Bị cáo 01 túi nilon màu xanh, miệng túi nẹp bấm cố định. Bị cáo cầm túi Hồng phiến kiểm tra lại bên trong có các viên hồng phiến. Bị cáo không đếm lại, đồng ý mua, còn người đàn ông đó đi đâu, làm gì Bị cáo không biết. Bị cáo cất giấu túi ma túy đó vào trong túi quần bên phải mặc đi về nhà. Khi về nhà không có ai, Bị cáo đứng giữa nhà định lấy túi hồng phiến ra sử dụng thì Tổ công tác Công an huyện Đ B vào nhà kiểm tra, thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của Bị cáo 01 túi nilon màu xanh, miệng có nẹp bấm cố định, mở bên trong có 61 viên Methamphetamine. Với nội dung trên, tổ công tác đã mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, thi hành lệnh khám xét chỗ ở đối với Bị cáo theo đúng qui định.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 09/12/2020 đã xác định: Khối lượng số viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp thu giữ của Nguyễn Văn B có khối lượng là 5,89 gam, trích 0,3 gam gửi giám định, vật chứng còn lại là 5,59 gam.

Tại bản kết luận giám định số 14/GĐ-PC09 ngày 16/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn B gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC; Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/05/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSĐB ngày 10/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo: Từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: 5,89 gam Methamphetamine.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 08 giờ 45 phút ngày 09/12/2020 tại Thôn Đ C, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên Nguyễn Văn B đã có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần bên phải của Bị cáo đang mặc 5,89 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt Bị cáo: 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/12/2020).
  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 5,89 gam Methamphetamine.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: B bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Nhà tạm giữ CAHĐB;
- VKSND H. ĐB;
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- CQCSĐT CAHĐB;
- Hồ sơ THA hình sự;
- Chi cục THADS HĐB;
- Toà án ND tỉnh Điện Biên;
- Bộ phận HSNV C.an HĐB;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Sở tư pháp;
- Lưu VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Thị Tố Loan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2021/HS-ST ngày 13/04/2021 của Toà án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 107/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 05 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger