|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106A/2025/HS-ST
Ngày 27 tháng 5 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huệ
2. Ông Nguyễn Văn Tư.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/HSST ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh C, sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 7/12; Bố: Lê Ngọc S, (đã chết); Mẹ: Lâm Thị L, (đã chết); Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là thứ 8; Vợ: Trần Thị Thúy A, sinh năm 1994; Có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị Huỳnh C1, sinh năm 2004, (Vắng mặt).
Nơi ĐKNKTT: Ấp 10, xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ở: Tổ dân phố Tân Phượng, phường Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. - Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1988, (Vắng mặt).
Nơi ĐKNKTT: Khu vực 2, phường IV, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Nơi ở: Tổ dân phố Tân Phượng, phường Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. - Ông Phương Văn C2, sinh năm 1966, (Vắng mặt).
Địa chỉ: TDP H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. - Ông Võ Đức S1, sinh năm 1967, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. - Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1982, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thanh C, sinh năm 1988 đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang có quen biết Hoàng Văn M, sinh năm 1982 là chủ quán X “Hoàng A1”, địa chỉ tại tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tháng 9/2018, C hợp đồng với M làm công việc quản lý nhân viên tại quán. Hai người thoả thuận nếu có khách đến xông hơi, mát xa thì sẽ thu của khách 300.000 đồng/ 1 lần. M được hưởng 200.000 đồng. Cần được hưởng 100.000 đồng và phải trả lương cho nhân viên xông hơi, mát xa theo thoả thuận.
Lê Thị Huỳnh C1, sinh năm 2004, trú tại Ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1998, trú tại Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang đến quán X “Hoàng A1” làm công việc xông hơi, mát xa cho khách. Cần trực tiếp quản lý những nhân viên này. Để có thêm thu nhập, C đứng ra môi giới cho nhân viên nữ bán dâm cho khách tại các nhà nghỉ trên địa bàn; Cần thoả thuận với C1 và T nếu có khách mua dâm thì C sẽ thu của khách 1.500.000 đồng; nhân viên được hưởng 1.000.000 đồng, C được hưởng 500.000 đồng; nếu khách mua dâm qua đêm thì C sẽ thu của khách 2.500.000 đồng trong đó C được hưởng 500.000 đồng, nhân viên bán dâm được hưởng 2.000.000 đồng.
Buổi tối ngày 20/01/2025, Phương Văn C2, sinh năm 1966, trú tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và Võ Đức S1, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang rủ nhau đến quán X “Hoàng A1" mục đích để mua dâm. C2 sử dụng điện thoại di động nhắn tin và gọi qua Zalo cho Lê Thanh C hẹn đến 23 giờ sẽ đến quán và bảo C bố trí 2 nhân viên nữ để mua dâm qua đêm. Do quen biết C2 từ trước nên C đồng ý.
Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, C2 và S1 đi taxi đến quán X “Hoàng A1". Hai người đi vào gặp Lê Thanh C đang chờ ở quán. C2 và S1 đặt vấn đề với C bố trí cho 2 nhân viên nữ để mua dâm qua đêm thì C nói giá mua dâm là 2.500.000 đồng/ 01 nhân viên, C2 và S1 phải trả tiền phòng nghỉ thì C2 và S1 đồng ý. S1 đưa cho C 2.500.000 đồng tiền mặt gồm 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Cương xin số tài khoản của C rồi sử dụng điện thoại đăng nhập tài khoản số 6050115061966 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 chuyển khoản 2.500.000 đồng đến số tài khoản 039268305 của Lê Thanh C mở tại Ngân hàng TMCP N1. Sau khi nhận được tiền, C bảo C2 và S1 đi sang nhà nghỉ P ở bên đường đối diện chờ. C2 và S1 đi sang gặp chị Nguyễn Thị H là chủ nhà nghỉ thuê 2 phòng 302, 304 sau đó C2 nhắn tin báo lại số phòng nghỉ cho C biết.
Đối với Lê Thanh C sau khi nhận tiền của S1 và C2 thì gọi điện, nhắn tin cho Lê Thị Huỳnh C1 và Nguyễn Thị Cẩm T bảo đi sang nhà nghỉ P bán dâm cho 02 khách qua đêm; Cần thông báo đã nhận tiền của khách và sẽ trả cho mỗi người 2.000.000 đồng thì C1 và T đồng ý. Sau đó, C gọi điện cho C2 để biết số phòng rồi bảo C1 đến phòng 302 còn T đến phòng 304 để bán dâm. Chân vào phòng 302 bán dâm cho S1 còn T vào phòng 304 bán dâm cho C2.
Hồi 00 giờ 40 phút ngày 21/01/2025, tổ công tác của Công an thành phố B kiểm tra hành chính nhà nghỉ P phát hiện lập biên bản các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm, cụ thể:
- + Tại phòng 302 có Lê Thị Huỳnh C1 và Võ Đức S1 đang quan hệ tình dục với nhau.
- + Tại phòng 304 có Nguyễn Thị Cẩm T và Phương Văn C2 đang quan hệ tình dục với nhau.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 điện thoại Redmi Note13 màu đen của Phương Văn C2;
- - 01 điện thoại Iphone 13Promax màu xanh của Lê Thị Huỳnh C1;
- - 01 điện thoại IphoneXmax màu vàng của Nguyễn Thị Cẩm T;
- - 01 quyển sổ màu xanh, bên ngoài ghi quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT và 01 điện thoại Samsung màu xanh của Nguyễn Thị H chủ nhà nghỉ (bút lục 67- 68).
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khám xét khẩn cấp tại quán X "H" đã thu giữ của Lê Thanh C những tài sản, vật chứng gồm:
- - Số tiền 2.500.000 đồng gồm 05 tờ mệnh giá 500.000 đồng (C khai là tiền môi giới bán dâm) thu tại túi quần phía sau bên trái.
- - 01 điện thoại Iphone 7Plus màu đen lắp sim 0981.995.133.
- - 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim 0585.940.347.
- - Số tiền 3.400.000 đồng (C khai là tiền khách trả tiền vé xông hơi massage tại quán).
- - 01 căn cước công dân mang tên Lê Thanh C.
- - 01 hợp đồng ủy quyền và 01 hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Hoàng Văn M và Lê Thanh C.
- - 04 hợp đồng lao động giữa Hoàng Văn M và Lê Thị Huỳnh C1, Lê Thị Thúy N, Nguyễn Thị Ngọc Q, Trần Văn T1 (bút lục 8- 9).
Ngày 21/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Thanh C về hành vi môi giới mại dâm. Quá trình điều tra, C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết quả kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu thoại Redmi Note13, lắp sim 0349.980.910 thu giữ của Phương Văn C2 còn lưu các tin nhắn Zalo vào buổi tối ngày 20/01/2025 với tài khoản zalo là "Bảo Bảo" của Lê Thanh C có nội dung trao đổi liên quan đến mua bán dâm; hình ảnh gái bán dâm mà C chuyển cho C2 để lựa chọn (bút lục 108).
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 lắp sim 0585.940.347 của Lê Thanh C có cuộc gọi, nhắn tin zalo với Phương Văn C2 lưu tên "Khách H1" trao đổi liên quan đến mua bán dâm; mục tài khoản ngân hàng có nhận số tiền 2.500.000 đồng do C2 chuyển khoản đến hồi 23 giờ 25 phút ngày 20/01/2025 (bút lục 154-161).
Kết quả sao kê tài khoản Ngân hàng TMCP N1 của Lê Thanh C thể hiện lúc 23 giờ 25 phút ngày 20/01/2025 nhận được 2.500.000 đồng do C2 chuyển khoản đến. C khai C2 trả tiền để mua dâm.
Ngày 21/01/2025, Cơ quan điều tra đã cho Lê Thanh C nhận dạng ảnh Lê Thị Huỳnh C1, Nguyễn Thị Cẩm T, Phương Văn C2, Võ Đức S1. Kết quả C nhận đúng ảnh và xác định đã môi giới mại dâm cho các đối tượng nêu trên vào ngày 20/01/2025 (bút lục 45- 46).
Cơ quan điều tra đã cho Phương Văn C2, Võ Đức S1, Nguyễn Thị Cẩm T và Lê Thị Huỳnh C1 nhận dạng ảnh Lê Thanh C. Những người nêu trên đều nhận đúng ảnh và xác định C đã môi giới mại dâm cho các đối tượng nêu trên vào ngày 20/01/2025 (bút lục 50- 66).
Về xử lý các đối tượng liên quan:
Đối với Phương Văn C2, Võ Đức S1, Lê Thị Huỳnh C1 và Nguyễn Thị Cẩm T có hành vi mua bán dâm đã bị Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Hoàng Văn M là chủ quán X “Hoàng A1” ký hợp đồng thuê Cần làm quản lý quán. M không biết việc C thực hiện hành vi môi giới bán dâm nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với Nguyễn Thị H là chủ nhà nghỉ P cho Phương Văn C2 và Võ Đức S1 thuê phòng nhưng không biết để cho các đối tượng mua bán dâm tại nhà nghỉ nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về xử lý tài sản, đồ vật thu giữ:
Cơ quan điều tra đã trả lại Nguyễn Thị H 01 quyển sổ màu xanh bên ngoài ghi quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện và 01 điện thoại Samsung màu xanh; trả lại Phương Văn C2 01 điện thoại Redmi Note13 màu đen; trả lại Lê Thị Huỳnh C1 01 điện thoại Iphone 13Promax màu xanh; trả lại Nguyễn Thị Cẩm T 01 điện thoại IphoneXmax màu vàng.
Số tiền 5.900.000 đồng (trong đó 2.500.000 đồng thu của khách mua dâm); 01 điện thoại Iphone 7Plus màu đen lắp sim 0981.995.133 mà C sử dụng nhận tiền chuyển khoản 2.500.000 đồng mua dâm và liên lạc bảo C1, T đi bán dâm; 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim 0585.940.347 dùng liên lạc với C2; 01 căn cước công dân mang tên Lê Thanh C được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Lê Thanh C về tội: “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh C trình bày: Bị cáo khai nhận tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là không oan, đúng người, đúng tội. Trong quá trình điều tra, bị cáo bị thu giữ 02 điện thoại di động, 01 căn cước công dân và số tiền 5.900.000 đồng. Bị cáo đã sử dụng cả 2 chiếc điện thoại di động để thực hiện hành vi phạm tội. Đối với số tiền 5.900.000 đồng là trong đó có 2.500.000 đồng là tiền môi giới mại dâm, còn số tiền còn lại là 3.400.000 đồng là của bị cáo, bị cáo xin lại số tiền 3.400.000 đồng và căn cước công dân.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2; khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh C từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 21/01/2025.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lê Thanh C: 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước. - Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen lắp sim 0981.995.133;
- + 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim 0585.940.347;
- - Truy thu đối với bị cáo Lê Thanh C số tiền 2.500.000 đồng.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Thanh C 01 căn cước công dân mang tên Lê Thanh C.
- - Đối với số tiền 5.900.000 đồng: Sung ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng; trả lại cho bị cáo Lê Thanh C số tiền 3.400.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo: Không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Lê Thanh C là quản lý quán X “Hoàng A1” ở tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ngoài kinh doanh xông hơi, M1, Cần thoả thuận, môi giới cho Lê Thị Huỳnh C1, sinh năm 2004 và Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1998 nhân viên của quán đi bán dâm cho khách tại nơi khác để thu tiền và ăn chia theo thoả thuận.
Buổi tối ngày 20/01/2025, Phương Văn C2 cùng Võ Đức S1 đi đến quán đặt vấn đề với Lê Thanh C cho mua dâm qua đêm với 2 nhân viên nữ thì C đồng ý và thu của mỗi người 2.500.000 đồng. Cần bảo C2, S1, C1, T đi sang nhà nghỉ P ở phía đối diện để mua bán dâm. Khi S1 và C1 đang mua bán dâm tại phòng 302; C2 và T đang mua bán dâm tại phòng 304 nhà nghỉ P thì bị Công an thành phố B kiểm tra phát hiện. Kết quả điều tra xác định C đã môi giới cho C1 và T bán dâm cho khách và đã thu được 5.000.000 đồng nhưng chưa kịp chia tiền cho gái bán dâm thì bị Công an thành phố B bắt giữ.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự xã hội. Hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Lê Thanh C là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.
[7] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự xã hội, gây tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, hủy hoại nhân cách con người, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm.... là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[9] Về vật chứng:
- - Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen lắp sim 0981.995.133; 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim 0585.940.347 bị cáo đã sử dụng 2 chiếc điện thoại nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 căn cước công dân mang tên Lê Thanh C là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Lê Thanh C.
- - Đối với số tiền 5.900.000 đồng: Trong đó có 2.500.000 đồng tiền môi giới mại dâm nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, còn 3.400.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Cần truy thu 2.500.000 đồng tiền môi giới mại dâm đối với bị cáo Lê Thanh C.
- [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2; khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử:
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh C 03 (Ba) năm tù về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/01/2025.
- Phạt bổ sung bị cáo Lê Thanh C số tiền 10.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen lắp sim 0981.995.133;
- + 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu xanh lắp sim 0585.940.347;
- - Truy thu đối với bị cáo Lê Thanh C số tiền 2.500.000 đồng.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Thanh C 01 căn cước công dân mang tên Lê Thanh C.
- - Đối với số tiền 5.900.000 đồng: Sung ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng; trả lại cho bị cáo Lê Thanh C số tiền 3.400.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Lê Thanh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Bản án số 106A/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về môi giới mại dâm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 106A/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh C phạm tội "Môi giới mại dâm"
