|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1069/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/8/2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Huệ
Bà Nguyễn Kim Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Toà án Gò Vấp
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXX - ST ngày 21/6/2024 (Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2024/QĐHPT - ST ngày19/7/2024), giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1981
Địa chỉ: quận Gò Vấp, TPHCM
Cư trú: quận Gò Vấp, TPHCM
Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1973
Địa chỉ: quận Gò Vấp, TPHCM
Cư trú: quận Gò Vấp, TPHCM
(Nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn là bà Hoàng Thị T và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện:
Bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn T chung sống tự nguyện có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 02/2008, do Ủy ban nhân dân phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/3/2009. Ông bà chung sống có hai con chung tên là Lê Hoàng Th, sinh ngày 07/6/2009 và Lê Hoàng T, sinh ngày 09/6/2014. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc do cả hai bất đồng quan điểm. Ông T không nỗ lực để chăm lo cho vợ con gia đình, không tôn trọng ý kiến của vợ. Mọi sinh hoạt trong gia đình đều do bà T chịu trách nhiệm, gồng gánh từ việc chăm sóc con cái đến chi phí sinh hoạt và học hành của các con. Tháng 12/2023 ông bà đã bàn bạc cùng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nhưng bà T đã cố gắng níu kéo nên không nộp đơn yêu cầu, nhưng hôn nhân của bà cũng không cải thiện được. Xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn ông T để ổn định cuộc sống của mình. Bà T đề nghị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Lê Văn T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã tống đạt thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông T nhưng ông T vẫn tiếp tục vắng mặt do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu như nêu trên. Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Tống đạt cho đương sự, tiến hành phiên hòa giải, đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đảm bảo thời hạn nghiên cứu đúng theo quy định tại các Điều 175, 208, 203, 220, 233 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua diễn biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1]. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn sinh sống tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nên nguyên đơn gửi đơn ly hôn đến Toà án nhân dân quận Gò Vấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Các đương sự thương yêu, tìm hiểu và tự nguyện sống chung có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 02/2008, do Ủy ban nhân dân phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/3/2009. Nay có yêu cầu ly hôn, xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình.
1.2 Về người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án là đã tước bỏ quyền được chứng minh của mình, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung quy định tại khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu của các đương sự:
2.1 Về mâu thuẫn vợ chồng: Nguyên đơn khai bị đơn không nỗ lực chăm lo cho gia đình, không tôn trọng vợ. Mọi sinh hoạt trong gia đình đều do nguyên đơn chịu trách nhiệm, gồng gánh từ việc chăm sóc con cái đến chi phí sinh hoạt và học hành của các con. Nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng dành cho bị đơn không còn nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống của mình.
Về phía bị đơn, bị đơn luôn vắng mặt dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại địa chỉ mà bị đơn đăng ký tạm trú nên Tòa án không tiến hành được phiên họp công khai việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật.
Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của các đương sự. Kết quả xác minh thể hiện các đương sự đang sống ly thân. Mâu thuẫn giữa các đương sự không gây ảnh hưởng đến những người xung quanh. Hai con chung đang được bà T chăm sóc nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là phải xây dựng trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng; Các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Việc nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng dành cho bị đơn không còn nên yêu cầu ly hôn thể hiện sự tự nguyện xây dựng hôn nhân gia đình không còn nữa. Việc các đương sự đã sống ly thân không ai quan tâm lo lắng cho ai thể hiện đời sống vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản đối, không có văn bản phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho thấy bị đơn không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, bỏ mặc hôn nhân và gia đình của mình. Cuộc sống hôn nhân của các đương sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ly hôn là giải pháp tốt nhất để cả hai tự ổn định cuộc sống riêng của mình. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2 Về con chung: Có hai con chung là Lê Hoàng Th, sinh ngày 07/6/2009 và Lê Hoàng T, sinh ngày 09/6/2014. Nguyên đơn đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi trưởng thành. Điều này phù hợp nguyện vọng của hai trẻ và vì quyền lợi của trẻ em nên việc giao hai con chung cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là cần thiết và phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử ghi nhận. Vì quyền lợi của trẻ em, khi có lý do chính đáng, việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị T được ly hôn ông Lê Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 02/2008, do Ủy ban nhân dân phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/3/2009 không còn hiệu lực.
- Về con chung: Giao bà Hoàng Thị T quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Lê Hoàng Th, sinh ngày 07/6/2009 và Lê Hoàng T, sinh ngày 09/6/2014 cho đến khi trưởng thành.
Ông Lê Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Bà Hoàng Thị T không yêu cầu ông Lê Văn T cấp dưỡng nuôi con. Khi có lý do chính đáng, việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) do bà Hoàng Thị T chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã tạm nộp án phí theo biên lai thu số AA/2023/0013322 ngày 08/01/2024 của Chi cục Thi hành án quận Gò Vấp. Bà Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí.
3/ Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
4/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Tứ Nhị |
Bản án số 1069/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1069/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị T được ly hôn ông Lê Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn không còn hiệu lực. - Về con chung: Giao bà Hoàng Thị T quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Lê Hoàng Th, sinh ngày 07/6/2009 và Lê Hoàng T, sinh ngày 09/6/2014 cho đến khi trưởng thành. Ông Lê Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con. Bà Hoàng Thị T không yêu cầu ông Lê Văn T cấp dưỡng nuôi con. Khi có lý do chính đáng, việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) do bà Hoàng Thị T chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã tạm nộp án phí theo biên lai thu số AA/2023/0013322 ngày 08/01/2024 của Chi cục Thi hành án quận Gò Vấp. Bà Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí.
