Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1067/2024/HC-PT

Ngày: 23 - 9 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán:Ông Phan Tô Ngọc

Ông Phan Văn Yên

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 548/2024/TLPT-HC ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2023/HC-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1072/2024/QĐPT-HC ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Người khởi kiện: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1962. (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn Hữu M - Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
  • - Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Minh T - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Võ Thị Minh C1 - Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  1. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1934 (chết)

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn B gồm:

  1. Bà Phạm Thị Thanh V, sinh năm 1955.
  2. Địa chỉ: Ấp A G, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  3. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1955.
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

  5. Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1956.

    Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  6. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1962. (có mặt)

    Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  7. Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  8. Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1972. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp A G, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  9. Bà Phạm Thị Thúy K, sinh năm 1974.

    Địa chỉ: Ấp A G, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  1. Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1972. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn B1: Ông Trần Thanh G, sinh năm 1978; hợp đồng ủy quyền ngày 19/8/2022.

    Địa chỉ: số G ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B1: Luật sư Nguyễn Tuyết N - Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

    Địa chỉ: số A - 107 đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Phạm Thị Thanh V, sinh năm 1955.
  4. Bà Phạm Thị Thúy K, sinh năm 1974.
  5. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông bà V, bà K: Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1972; giấy ủy quyền ngày 17/6/2020 và ngày 18/6/2020.

    Địa chỉ: Ấp A G, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  6. Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1956.
  7. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre; hợp đồng ủy quyền ngày 25/6/2023.

  8. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1955.

3

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  1. Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1964.
  2. Địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông H, ông T2: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1962; hợp đồng ủy quyền và giấy ủy quyền ngà 25/6/2020.

    Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  3. Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1970. (chết)
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

    Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn N1 gồm:

    1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1976. (có mặt)
    2. Anh Phạm Công L1, sinh năm 2001. (có mặt)
    3. Chị Phạm Thị Huỳnh N2, sinh năm: 2006
    4. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

      Người đại diện theo pháp luật của chị Phạm Thị Huỳnh N2: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1976. (có mặt)

      Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  5. Bà Phạm Thị Ngọc T3, sinh năm 2002.
  6. Địa chỉ: Ấp A G sầm, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà T3: Ông Trần Thanh G, sinh năm 1978; Địa chỉ: số G ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

  7. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.
  8. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D - Chủ tịch.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn Đ - Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện ông Phạm Văn C trình bày:

Ngày 16/01/2007, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, ông Phạm Văn B1, bà Nguyễn Thị T4 và ông Phạm Văn B đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất về việc bà T4, ông B tặng cho ông B1 toàn bộ quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 16.540m². Ngày 06/8/2019, ông Phạm Văn B1 được Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362420 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 10 với diện tích 3879,8m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362418 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 151, tờ bản

4

đồ số 10, diện tích 116,7m²; Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 10, diện tích 3499,3m² và thửa 155, tờ bản đồ số 10, diện tích 384,1m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362419 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362421 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên có nguồn gốc từ việc tặng cho của bà Nguyễn Thị T4, và ông Phạm Văn B.

Đối với việc tặng cho nêu trên, các thành viên trong gia đình không hề hay biết.

Nhận thấy hợp đồng tặng cho nêu trên vi phạm pháp luật bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất, mẹ ông là bà Nguyễn Thị T4 không biết chữ, đồng thời, có thể thấy các chữ ký xác nhận tại Hợp đồng tặng cho nêu trên là cùng một người ký.

Thứ hai, tại thời điểm Hợp đồng tặng cho được tạo lập thì bà T4 và ông B đã lớn tuổi nên không đủ minh mẫn để nhận thức được hành vi của mình.

Thứ ba, quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 118, 119, 807, 806, 495, 496 và thửa đất số 1326, cùng tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P443277, số vào số cấp GCN 615/QĐ-UB là do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị T4. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 212 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đây là tài sản chung của các thành viên trong gia đình.

Ngoài ra, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì việc tặng cho nêu trên phải có sự tham gia và ký kết của tất cả các thành viên trong gia đình hoặc có văn bản thoả thuận, văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật thì hợp đồng tặng cho trên mới hợp pháp. Do tất cả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2020 dựa trên hợp đồng tặng cho giữa bà T4 và ông B1 nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên được cấp không đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích họp pháp của những người thừa kế của bà T4.

Trong quá trình khởi kiện tại Tòa, ngày 17/5/2021, ông phát hiện ông B1 đã tặng cho con là bà Phạm Thị Ngọc T3 các thửa đất số 254, 251, 252 tờ bản đồ số 10, toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Bà T3 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên vào ngày 14/8/2020.

Do đó, ông yêu cầu Toà án hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362420 thửa đất số 16, tờ bản

5

đồ số 10 diện tích 3.879,8m² do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019.

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362418 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10, diện tích 116,7m²; Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 10, diện tích 3.499,3m² và thửa 155, tờ bản đồ số 10, diện tích 384,1m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362419 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362421 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347991 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T3 vào ngày 14/8/2020 đối với thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347992 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T3 vào ngày 14/8/2020 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B trình bày:

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn B1 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 10, xã B, huyện B phát hành CS362420, số vào sổ cấp GCN CS06365 ngày 06/8/2019; Thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10, diện tích 116,7m²; Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 10, diện tích 3499,3m² và thửa 155, tờ bản đồ số 10, diện tích 384,1m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bốn Tre số phát hành CS 362418, số vào sổ cấp GCN CS 06363 ngày 06/8/2019; Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre số phát hành CS 362419, số vào sổ cấp GCN CS 06364 ngày 06/8/2019; Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre số phát hành CS 362421, số vào sổ cấp GCN CS 06366 ngày 06/8/2019.

Các thửa đất trên được cấp Giấy chứng nhận dựa trên cơ sở:

  • - Về quy định: Căn cứ Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

6

và mục 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2007 sửa đổi bổ sung một số quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;

  • - Về quy trình: Thực hiện theo Thủ tục số 16 thuộc Quyết định số 458/QĐ-Ủy ban nhân dân ngày 08 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc công bố 95 thủ tục hành chính được chuẩn hóa trong lĩnh vực tài nguyên môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở T.
  • - Về giấy tờ hợp pháp:
    • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ Nguyễn Thị T4 số phát hành P 443277, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 550615-001554 ký ngày 08 tháng 9 năm 2000; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ Nguyễn Thị T4 số phát hành V 660727, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02177 QSD/2143 QĐ-UB ký ngày 10 tháng 10 năm 2002.
    • + Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 73 quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD do Ủy ban nhân dân xã B ký chứng thực ngày 16 tháng 01 năm 2007.

Việc Sở T cấp Giấy chứng nhận cho ông Phạm Văn B1 đối với thửa đất số 16, 155, 151, 152, 250, 251, 252, 254 cùng tờ bản đồ số 10, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre là đúng theo quy định.

Việc yêu cầu huỷ tất cả các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đã cấp cho ông Phạm Văn B1 ngày 06/8/2020 phải đảm bảo theo quy định tại khoản 7 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ. Nếu yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp phải thực hiện đúng theo quy định tại khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.

Ngày 28/7/2020, ông Phạm Văn B1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng các thửa đất số 250, 251, 252, 254 tờ bản đồ số 10, tọa lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre cho con là bà Phạm Thị Ngọc T3. Ngày 14/8/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347991 đối với thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347992 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Từ những cơ sở trên, việc ông C yêu cầu Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B huỷ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là không có cơ sở xem xét, giải quyết. Đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của ông C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B1 trình bày:

Việc cha mẹ ông lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông đối với thửa đất số 16, 155, 151, 152, 250, 251, 252, 254 cùng tờ bản đồ số 10, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre và việc Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông đối với các thửa đất trên là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của

7

ông C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc T3 trình bày:

Việc cha bà là ông Phạm Văn B1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà đối với thửa đất số 250, 251, 252, 254 cùng tờ bản đồ số 10, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre và việc Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà đối với các thửa đất trên là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của ông C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện B trình bày:

Ủy ban nhân dân huyện B không có ý kiến về việc ông C yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2023/HC-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định:

Áp dụng Luật Đất đai 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362420 thửa đất số 16, tờ bản đồ số 10 diện tích 3.879,8m² do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362418 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10, diện tích 116,7m²; Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 10, diện tích 3499,3m² và thửa 155, tờ bản đồ số 10, diện tích 384,1m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362419 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362421 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347991 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T3 vào ngày 14/8/2020 đối với thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

8

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347992 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T3 vào ngày 14/8/2020 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 18/12/2023, người khởi kiện ông Phạm Văn C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Phạm Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B1 đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
  • - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của Phạm Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn C làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ông Phạm Văn C khởi kiện yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Văn B1 và bà Phạm Thị Ngọc T3 đối với thửa đất 16, 155, 151, 152, 250, 251, 252, 254 cùng tờ bản đồ số 10 (Thửa cũ là 118, 119, 495, 496, 807, 806 và 1326 tờ bản đồ số 04) tọa lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Với lý do, các thửa đất trên có một phần do ông bà để lại và có một phần đất được tập đoàn cấp, UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị T4. Việc cụ T4, cụ B lập hợp đồng tặng cho ông B1 các thửa đất trên mà không có ý kiến của các thành viên khác trong hộ gia đình là trái với quy định

9

pháp luật. Cụ T4 không biết chữ; tại thời điểm ký hợp đồng tặng cho, cụ T4 và cụ B đều đã lớn tuổi, không đủ minh mẫn để nhận thức hành vi.

[2.2] Xét thấy, đối với các thửa đất 118 (đất T, diện tích 300m²), 119 (đất CN, diện tích 3.205m²), 807 (đất L, diện tích 9.560m²), 806 (đất L, diện tích 4.460m²), 495 (đất CDK, diện tích 420m²), 496 (đất ĐM, diện tích 1.065m²); tất cả cùng tờ bản đồ số 04, tọa lạc ấp B, xã B, huyện B do cụ Nguyễn Thị T4 là người đăng ký kê khai. Tại “Đơn đăng ký quyền sử dụng ruộng đất” ngày 31/7/2000 của cụ T4 thì cụ T4 đăng ký thửa đất số 118, 119, 807, 806, 496 và 496 nguồn gốc là “đất ông bà”. Tại Giấy xác nhận nguồn gốc đất cũng thế hiện cụ T4 kê khai nguồn gốc “đất ông bà”, được ấp và xã xác nhận “Đất Nguyễn Thị T4 sử dụng ổn định”. Ngày 08/9/2000, UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành P 443277, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 550615-001554 đối với các thửa đất trên cho hộ Nguyễn Thị T4. Tại Văn bản số 2832/ủy ban nhân dân-NC ngày 25/09/2023 của UBND huyện B trả lời Tòa án thể hiện: “Năm 2000 cá nhân bà Nguyễn Thị T4 đăng ký kê khai các thửa đất 118, 119, 495,495, 806, 807 kê khai là đất ông bà. Ngày 08/9/2000, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định 615/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng (cá nhân) nhưng giấy chứng nhận lại cấp cho hộ bà T4”. Việc bà Nguyễn Thị T4 đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tư cách cá nhân nhưng sau đó UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho “hộ” bà T4 là có thiếu sót; đã được UBND huyện B xác nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Theo trình bày của ông C thì trong các thửa đất trên, thửa 806 và 807 có nguồn gốc trước đây do Tập đoàn cấp cho hộ gia đình bà T4; thời điểm này gia đình bà T4 có 10 nhân khẩu. Tuy nhiên, ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc được Tập đoàn giao đất. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 18/8/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã tiến hành xác minh tại UBND xã B, theo đó ông Lê Phương Đ1 - Công chức địa chính xã cho biết: “Ủy ban nhân dân xã hiện nay không còn lưu trữ thông tin nào về việc tập đoàn cấp đất cho hộ ông B, bà T4 đối với thửa 806, 807 tờ bản đồ số 4, xã B. Lãnh đạo tập đoàn qua các thời kỳ hiện nay đã chết, chỉ còn ông Mười L2 đang ở Đồng Nai nhưng không rõ địa chỉ nơi cư trú...”. Vì vậy, không có cơ sở xác định thửa đất số 806, 807 do Tập đoàn cấp cho hộ bà T4 như ông C đã trình bày.

Đối với thửa đất 1326 có nguồn gốc từ thửa 547 được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Ngọc T5 vào năm 1996 do cụ T4 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Ngọc T5 thuộc một phần thửa 1/547. Trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/3/2002 giữa bà Nguyễn Ngọc T5 và cụ Nguyễn Thị T4. Ngày 10/10/2002, UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành V 660727 cho hộ bà Nguyễn Thị T4. Thấy rằng, theo Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thì chỉ có cá nhân cụ T4 đứng tên hợp đồng chuyển nhượng, ông C và đồng thừa kế khác không đứng ra giao dịch với bà T5. Tại Văn bản số 2832/ủy ban nhân dân-NC ngày 25/09/2023 của UBND huyện B trả lời Tòa án, cũng thể hiện: “Phần đất có diện tích 1.996m² (thửa 1236

10

tờ bản đồ 04 xã B) đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T4, có nguồn gốc bà T4 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Ngọc T6. Theo hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 15/3/2002 thể hiện cá nhân bà T6 chuyển nhượng cho cá nhân bà Nguyễn Thị T4... Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cấp cho hộ bà T4 là không đúng nội dung hợp đồng chuyển nhượng QSD đất do hai bên đã ký kết”.

Như vậy, mặc dù các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị T4 thể hiện là cấp cho “hộ” nhưng thực tế phần đất có nguồn gốc do ông bà cụ T4 tạo lập, để lại cho cụ T4 và một phần do cụ T4 nhận chuyển nhượng từ người khác; không có cơ sở xác định là tài sản chung của hộ gia đình cụ T4. Việc bà T4, ông B định đoạt quyền sử dụng các thửa đất trên là đảm bảo điều kiện về mặt chủ thể.

[2.3] Ngày 16/01/2007, bà Nguyễn Thị T4, ông Phạm Văn B lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng các thửa đất nêu trên cho ông Phạm Văn B1; hợp đồng được UBND xã B chứng thực, số chứng thực 73, quyển số 01TP/CC- SCT/HĐGD. Trên cơ sở hợp đồng tặng cho được hợp pháp, ngày 05/6/2019, ông B1 làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 06/8/2019, Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B1. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Bửu t cho con là bà Phạm Thị Ngọc T3 các thửa đất số 250, 251, 252, 254, cùng tờ bản đồ số 10, toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Ngày 14/8/2020, bà T3 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với các thửa đất trên.

Quá trình giải quyết vụ án, ông C cho rằng bà T4 không biết chữ, các chữ ký xác nhận tại Hợp đồng tặng cho nêu trên là cùng một người ký nhưng không phải bà T4. Trong quá trình giải quyết vụ án ông C có yêu cầu Tòa án cho ông thời gian thu thập chứng cứ để giám định chữ ký của bà T4 nhưng tại biên bản đối thoại ngày 04/8/2020 ông đã xin rút lại yêu cầu giám định. Ngoài ra, ông C cho rằng tại thời điểm lập Hợp đồng tặng cho thì bà T4, ông B đã lớn tuổi nên không đủ minh mẫn để nhận thức được hành vi của mình. Tuy nhiên, ông C cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thời điểm tặng cho, bà T4, ông B bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Ngoài ra, căn cứ vi bằng lập ngày 04/01/2022 do ông B1 yêu cầu thì ông B xác định đất là của ông B, bà T4, ông bà đã định đoạt cho các quyền sử dụng đất tranh chấp cho ông B1. Như vậy, việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông B, bà T4 cho ông B1 là có thật, đúng ý chí của ông B, bà T4.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn B1 ngày 06/8/2019 đối với các thửa số 16, 151, 152, 155, 250, 251, 252, 254 cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị Ngọc T3 các thửa đất số 250, 251, 252, 254, cùng tờ bản đồ số 10, toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B là đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục theo quy định. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C về việc tuyên hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

11

[2.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông Phạm Văn C không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phạm Văn C phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, ông C là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí phúc thẩm nên được miễn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn C.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2023/HC-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Áp dụng Luật Đất đai 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362420 thửa đất số 16, tờ bản đồ số 10 diện tích 3.879,8m² do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362418 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10, diện tích 116,7m²; Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 10, diện tích 3499,3m² và thửa 155, tờ bản đồ số 10, diện tích 384,1m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362419 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362421 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B1 vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347991 do Sở tài nguyên và

12

môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T3 vào ngày 14/8/2020 đối với thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m² toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347992 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T3 vào ngày 14/8/2020 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m²; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m² và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m² cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  1. Về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm:
  • - Chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn C tự nguyện chịu (đã quyết toán xong)
  • - Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Phạm Văn C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005021 ngày 03/6/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.
  1. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phạm Văn C được miễn.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM (1);
  • - TAND tỉnh Bến Tre (1);
  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1);
  • - Cục THADS tỉnh Bến Tre (1);
  • - Đương sự (12);
  • - Lưu VP (5), HS (2).24b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1067/2024/HC-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 1067/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Văn C kiện Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bến Tre yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau: - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362420 thửa đất số 16, tờ bản đồ số 10 diện tích 3.879,8m2 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B vào ngày 06/8/2019. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362418 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10, diện tích 116,7m2; Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 10, diện tích 3499,3m2 và thửa 155, tờ bản đồ số 10, diện tích 384,lm2 cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362419 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m2; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m2 và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m2 cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 362421 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Phạm Văn B vào ngày 06/8/2019 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m2 toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347991 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T vào ngày 14/8/2020 đối với thửa đất số 254, tờ bản đồ số 10, diện tích 588,4m2 toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 347992 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị Ngọc T vào ngày 14/8/2020 đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 250, tờ bản đồ số 10, diện tích 1312,7m2; Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, diện tích 1846,7m2 và thửa 252, tờ bản đồ số 10, diện tích 5907,6m2 cùng toạ lạc xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger