Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1066/2024/HS-PT

Ngày: 19/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 819/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2024/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo:

Lâm Văn H, sinh năm: 1983, tại: Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khóm A, phường A, Tp H, Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ và tên cha: Lâm Văn D (chết); Họ và tên mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1959; Vợ: Võ Mỹ Lệ D1, sinh năm 1983; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giam ngày 22/8/2023; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lâm Văn H (gia đình bị cáo mời: Ông Nguyễn Thế T1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị hại không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Văn H, sinh năm 1983, ngụ: Khóm A, phường A, Tp H, Đồng Tháp bắt đầu làm chủ hụi từ năm 2008. Do mất cân đối về tài chính trong quá trình làm chủ hụi và vay nợ bên ngoài dẫn đến nợ nhiều người, để che giấu việc mình mất khả năng trả nợ. H liên tục mở nhiều dây hụi rồi dùng thủ đoạn gian dối như: Tự ý lấy tên hụi viên tham gia để hốt hụi mà không được sự đồng ý của họ hoặc lấy tên khống hốt hụi để chiếm đoạt tài sản. Kết quả điều tra đủ cơ sở chứng minh Lâm Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối nêu trên để hốt hụi nhằm chiếm đoạt tiền của 32 bị hại trong từng dây hụi từ năm 2020 đến năm 2021 và các bị hại đã có đơn tố cáo, cụ thể như sau:

1. Dây hụi thứ 1: Hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 26/3/2020 (âm lịch), có 20 phần hụi, khui được 16 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 2, 4, 5, 6, 7, 9, 10, 12, 16, để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 06 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Lê Kim T2 số tiền 34.910.000 đồng, 2/ Trần Văn D2 số tiền 34.910.000 đồng, 3/ Lê Kim T3 số tiền 34.910.000 đồng, 4/ Đặng Thị H1 số tiền 34.910.000 đồng, 5/ Phạm Thị Kim T4 số tiền 34.910.000 đồng, 6/ Võ Thị Bích T5 số tiền 34.910.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 06 bị hại với tổng số tiền 209.460.000 đồng.

2. Dây hụi thứ 2: Hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 12/12/2020 (âm lịch), có 22 phần hụi, khui được 08 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 07 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Lê Kim T2 số tiền 25.630.000 đồng, 2/ Trần Văn D2 số tiền 76.890.000 đồng, 3/ Lê Kim T3 số tiền 25.630.000 đồng, 4/ Đặng Thị H2 số tiền 25.630.000 đồng, 5/ Phạm Thị Kim T4 số tiền 25.630.000 đồng, 6/ Võ Thị Bích T5 số tiền 102.520.000 đồng, 7/ Trần Thị T6 số tiền 25.630.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 07 bị hại với tổng số tiền 307.560.000 đồng.

3. Dây hụi thứ 3: Hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 06/01/2021 (âm lịch), có 21 phần hụi, khui được 06 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 3, 5, 6, để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 04 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Võ Thị D3 số tiền 10.550.000 đồng, 2/ Chế Mừng Húa số tiền 21.100.000 đồng, 3/ Võ Văn H3 số tiền 21.100.000 đồng, 4/ Phạm Thị Thúy D4 số tiền 10.550.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 04 bị hại với tổng số tiền 63.300.000 đồng.

4. Dây hụi thứ 4: Hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 01/02/2021 (âm lịch), có 22 phần hụi, khui được 05 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2, 3, 5 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 06 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Lê Kim T2 số tiền 14.650.000 đồng, 2/ Trần Văn D2 số tiền 14.650.000 đồng, 3/ Đặng Thị H1 số tiền 14.650.000 đồng, 4/ Trần Thị T6 số tiền 14.650.000 đồng, 5/ Đỗ Mộng Đoan T7 số tiền 14.650.000 đồng, 6/ Nguyễn Thị Ngọc T8 số tiền 29.300.000 đồng, 7/ Ngô Thị T9 số tiền 29.300.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 7 bị hại với tổng số tiền 131.850.000 đồng.

5. Dây hụi thứ 5: Hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 09/6/2021 (âm lịch), có 14 phần hụi, khui được 02 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 05 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Lê Kim T2 số tiền 7.470.000 đồng, 2/ Lê Kim T3 số tiền 7.470.000 đồng, 3/ Võ Thị Bích T5 số tiền 22.410.000 đồng, 4/ Trần Thị T6 số tiền 7.470.000 đồng, 5/ Nguyễn Thị Ngọc T8 số tiền 29.880.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 5 bị hại với tổng số tiền 74.700.000 đồng.

6. Dây hụi thứ 6: Hụi 3.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 19/01/2020 (âm lịch), có 25 phần hụi, khui được 19 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 3, 4, 6, 7, 9, 10, 11, 15, 16, 18 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 07 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Châu Mừng H4 số tiền 23.410.000 đồng, 2/ Đỗ Mộng Đoan T7 số tiền 23.410.000 đồng, 3/ Nguyễn Thị Ngọc T8 số tiền 23.410.000 đồng, 4/ Dương Thị H5 số tiền 23.410.000 đồng, 5/ Lý Ngọc T10 số tiền 46.820.000 đồng, 6/ Dương Thị B số tiền 23.410.000 đồng, 7/ Dương Thị Bích T11 số tiền 23.410.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 7 bị hại với tổng số tiền 187.280.000 đồng.

7. Dây hụi thứ 7: Hụi 3.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 21/01/2020 (âm lịch), có 21 phần hụi, khui được 19 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 2, 5, 9, 12, 14, 18 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 03 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Nguyễn Thị Ngọc T8 số tiền 28.960.000 đồng, 2/ Lê Thị Kim T12 số tiền 28.960.000 đồng, 3/ Dương Thị Thúy K số tiền 14.480.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 3 bị hại với tổng số tiền 72.400.000 đồng.

8. Dây hụi thứ 8: Hụi 3.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 18/4/2020 (âm lịch), có 22 phần hụi, khui được 16 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 3, 4, 7, 8, 11, 14, 15, 16 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 04 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Đặng Thị H1 số tiền 19.460.000 đồng, 2/ Đỗ Mộng Đoan T7 số tiền 19.460.000 đồng, 3/ Nguyễn Thị M số tiền 19.460.000 đồng, 4/ Bùi Thị Mỹ H6 số tiền 38.920.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 4 bị hại với tổng số tiền 97.300.000 đồng.

9. Dây hụi thứ 9: Hụi 3.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 08/4/2021 (âm lịch), có 24 phần hụi, khui được 3 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2, 3 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 06 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Phạm Thị Kim T4 số tiền 27.640.000 đồng, 2/ Đặng Thị H2 số tiền 6.910.000 đồng, 3/ Đỗ Mộng Đoan T7 số tiền 6.910.000 đồng, 4/ Ngô Thị T9 số tiền 13.820.000 đồng, 5/ Dương Thị H5 số tiền 6.910.000 đồng, 6/ Dương Thị Thúy K số tiền 13.820.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 6 bị hại với tổng số tiền 76.010.000 đồng.

10. Dây hụi thứ 10: Hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 28/7/2020 (âm lịch), có 26 phần hụi, khui được 11 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 3, 4, 7, 8, 10, 11 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 07 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Đặng Thị H2 số tiền 8.500.000 đồng, 2/ Trần Thị T6 số tiền 17.000.000 đồng, 3/ Nguyễn Thị Ngọc T8 số tiền 17.000.000 đồng, 4/ Dương Thị H5 số tiền 25.500.000 đồng, 5/ Lý Ngọc T10 số tiền 17.000.000 đồng, 6/ Dương Thị Bích T11 số tiền 8.500.000 đồng, 7/ Nguyễn Thị Thiên K1 số tiền 8.500.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 7 bị hại với tổng số tiền 102.000.000 đồng.

11. Dây hụi thứ 11: Hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 02/4/2021 (âm lịch), có 20 phần hụi, khui được 03 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 3 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 06 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Lê Kim T3 số tiền 3.120.000 đồng, 2/ Phạm Thị Kim T4 số tiền 3.120.000 đồng, 3/ Phạm Thị Thúy D4 số tiền 3.120.000 đồng, 4/ Dương Thị B số tiền 6.240.000 đồng, 5/ Dương Thị Bích T11 số tiền 3.120.000 đồng, 6/ Nguyễn Thị Mỹ L số tiền 9.360.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 6 bị hại với tổng số tiền 28.080.000 đồng.

12. Dây hụi thứ 12: Hụi 1.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 10/01/2021 (âm lịch), có 28 phần hụi, khui được 6 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2, 4, 5, 6, 7 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 06 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Chế Mừnh Húa số tiền 7.880.000 đồng, 2/ Phạm Thị Thúy D4 số tiền 3.940.000 đồng, 3/ Nguyễn Thị Ngọc T8 số tiền 11.820.000 đồng, 4/ Nguyễn Thị Kim L1 số tiền 15.760.000 đồng, 5/ Nguyễn Thị Kim L2 số tiền 7.880.000 đồng, 6/ Phạm Thị Kim Y số tiền 3.940.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 6 bị hại với tổng số tiền 51.220.000 đồng.

13. Dây hụi thứ 13: Hụi 500.000 đồng, 01 tuần một lần, bắt đầu khui hụi ngày 22/5/2021 (âm lịch), có 46 phần hụi, khui được 6 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2, 3, 4, 5, 6 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 09 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Đặng Thị H1 số tiền 7.125.000 đồng, 2/ Phạm Thị Kim T4 số tiền 4.750.000 đồng, 3/ Dương Thị H5 số tiền 4.750.000 đồng, 4/ Dương Thị Bích T11 số tiền 2.375.000 đồng, 5/ Lê Thị Kim T12 số tiền 11.875.000 đồng, 6/ Bùi Thị Mỹ H6 số tiền 2.375.000 đồng, 7/ Nguyễn Thị Kim L1 số tiền 9.500.000 đồng, 8/ Nguyễn Thị Kim L2 số tiền 7.125.000 đồng, 9/ Chế Mừng Húa số tiền 7.125.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 9 bị hại với tổng số tiền 57.000.000 đồng.

14. Dây hụi thứ 14: Hụi 500.000 đồng, 01 tuần một lần, bắt đầu khui hụi ngày 25/5/2021 (âm lịch), có 35 phần hụi, khui được 5 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2, 3, 4 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 03 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Đặng Thị H1 số tiền 1.480.000 đồng, 2/ Phạm Thị Thúy D4 số tiền 2.960.000 đồng, 3/ Lê Thị Kim T12 số tiền 5.920.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 3 bị hại với tổng số tiền 10.360.000 đồng.

15. Dây hụi thứ 15: Hụi 100.000 đồng, mỗi ngày khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 18/3/2021 (âm lịch), có 95 phần hụi, khui được 86 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 05 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Phạm Thị Kim T4 số tiền 4.050.000 đồng, 2/ Bùi Thị Mỹ H6 số tiền 1.620.000 đồng, 3/ Nguyễn Thị Kim L1 số tiền 1.620.000 đồng, 4/ Nguyễn Thị Kim L2 số tiền 4.050.000 đồng, 5/ Phạm Thị Kim Y số tiền 1.620.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 5 bị hại với tổng số tiền 12.960.000 đồng.

16. Dây hụi thứ 16: Hụi 100.000 đồng, mỗi ngày khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 07/6/2021 (âm lịch), có 105 phần hụi, khui được 9 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý lấy tên hụi viên ở lần thứ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 05 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Đặng Thị H1 số tiền 11.880.000 đồng, 2/ Lê Thị Kim T12 số tiền 7.920.000 đồng, 3/ Phạm Thị Kim Y số tiền 3.960.000 đồng, 4/ Lâm Thị H7 số tiền 3.960.000 đồng, 5/ Châu Thị S số tiền 2.376.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 5 bị hại với tổng số tiền 30.096.000 đồng.

17. Dây hụi thứ 17: Hụi 100.000 đồng, mỗi ngày khui một lần, bắt đầu khui hụi ngày 01/4/2021 (âm lịch), có 99 phần hụi, khui được 74 lần thì vỡ hụi. Trong dây hụi này, qua đối chiếu bị cáo H tự ý 25 lần lấy tên hụi viên để hốt hụi mà không có sự đồng ý của hụi viên để chiếm đoạt tài sản, có 06 hụi viên tố cáo gồm: 1/ Ngô Thị T9 số tiền 11.215.000 đồng, 2/ Dương Thị H5 số tiền 4.486.000 đồng, 3/ Lê Thị Kim T12 số tiền 11.215.000 đồng, 4/ Lâm Thị H7 số tiền 22.430.000 đồng, 5/ Trần Phước Ú số tiền 22.430.000 đồng, 6/ Võ Thị Ơ số tiền 11.215.000 đồng. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của 6 bị hại với tổng số tiền 82.991.000 đồng.

Tổng cộng Lâm Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối hốt hụi để chiếm đoạt của 32 bị hại với tổng số tiền 1.594.567.000 đồng.

Ngoài số tiền bị cáo Lâm Văn H chiếm đoạt của 32 bị hại như đã nêu trên thì bị cáo còn thiếu 32 bị hại tiền nợ hụi phát sinh từ các dây hụi trên với số tiền 1.076.185.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đồng ý bồi thường cho 32 bị hại với tổng số tiền 1.594.567.000 đồng nhưng chưa bồi thường. Đồng thời bị cáo cũng tự nguyện trả cho các bị hại số tiền nợ hụi còn thiếu là 1.076.185.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 26-7-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định:

I. Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Văn H 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 22/8/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09-8-2024, bị cáo Lâm Văn H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lâm Văn H trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết và xin giảm hình phạt với các lý do: bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục tiếp được 356.200.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: luật sư thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh. Trước khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã khắc phục được 40.000.000 đồng, sau khi xét xử sơ thẩm thì gia đình bị cáo khắc phục thêm được 356.200.000 đồng và bị cáo được một số bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo hiện đang phải nuôi mẹ già và 02 con nhỏ, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Lâm Văn H làm trong hạn luật định đề nghị xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lâm Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khắc phục thêm được một phần hậu quả, tuy nhiên, số tiền khắc phục không lớn, tình tiết khắc phục hậu quả cũng đã được áp dụng cho nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Lâm Văn H làm trong hạn luật định, được Hội đồng phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2021, do mất cân đối về tài chính trong quá trình làm chủ hụi và vay nợ bên ngoài dẫn đến nợ nhiều người, để che giấu việc mình mất khả năng trả nợ, H liên tục mở nhiều dây hụi rồi dùng thủ đoạn gian dối như: Tự ý lấy tên hụi viên tham gia để hốt hụi mà không được sự đồng ý của họ hoặc lấy tên khống hốt hụi để chiếm đoạt tài sản của 32 bị hại. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 1.594.567.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lâm Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Tại cấp sơ thẩm, bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả 40.000.000 đồng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã động viên gia đình khắc phục tiếp cho các bị hại Võ Văn H3, Võ Thị Ơ, Đỗ Mộng Đoan T7, Võ Thị N, Dương Thị Thúy K, Phạm Thị Thúy D4, Nguyễn Thị Mỹ L, Châu Thị S. Tổng số tiền mà bị cáo khắc phục là 356.200.000 đồng và đã được các bị hại này làm đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H đã thể hiện sự thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình cũng như đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, điều này thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo, do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp là không phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[4]. Do kháng cáo của bị cáo H được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Văn H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Văn H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 22/8/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Lâm Văn H không phải chịu.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Tòa án nhân dân tối cao;

- VKSNDCC Thành phố Hồ Chí Minh;

- TAND tỉnh Đồng Tháp;

- Phòng thi hành án hình sự- TAND tỉnh Đồng Tháp;

- VKSND tỉnh Đồng Tháp;

- Cục THADS tỉnh Đồng Tháp;

- Trại Tạm giam CA tỉnh Đồng Tháp;

- Bị cáo (qua BGT Trại TG);

- Lưu hồ sơ 01, VP 5, (DTTP 14).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Tô Ngọc

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1066/2024/HS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 1066/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Văn H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger