|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 1065/2023/HC-PT Ngày 20-12-2023 V/v Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng và giao thông đường bộ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Phan Tô Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số:
669/2023/TLPT-HC ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc: “Khiếu kiện Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng và giao thông đường bộ”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 18/2023/HC-ST ngày 25 tháng 7 năm 2023
của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo;
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3130/2023/QĐPT-HC ngày
22 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Đào Chí T, sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: Số D, Khu Dân cư T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu.
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
Địa chỉ: Số A, đường T, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Kim T1, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đào Hồng P, sinh năm 1956
2. Bà Đào Mỹ D, sinh năm 1982
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đào Hồng P và bà Đào Mỹ D: Bà
Lê Thị Q, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa người khởi kiện
ông Đào Chí T trình bày nội dung như sau:
Thửa đất số 117, 118, tờ bản đồ số 53, tại Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc
Liêu là của ông Đào Hồng P (cha ông) và bà Đào Mỹ D (chị ông) là chủ sử dụng
hai thửa đất trên. Ông cho rằng cha ông là chủ đầu tư là người xây nhà, ông chỉ là
người giám sát công trình, không phải là người thực hiện chính. Cha ông có nhờ
ông đến cơ quan có thẩm quyền xin cấp Giấy phép xây dựng nhiều lần nhưng
chưa được cấp phép. Do thời gian lâu nên cha ông thuê thợ đến xây dựng hàng
rào bảo vệ ranh đất và lợp mái tol nhà tiền chế trên hai thửa đất để chứa đồ và ông
chỉ là người giám sát thi công công trình. Khi xây dựng được một phần thì bị cơ
quan có thẩm quyền tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính. Việc xử phạt vi
phạm hành chính đối với ông là không đúng đối tượng. Ông không đồng ý với
việc xử phạt vi phạm hành chính nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy
các Quyết định số 22/QĐ-TG ngày 27/02/2023 về tạm giữ tang vật, phương tiện
vi phạm hành chính, Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 03/3/2023 về xử phạt vi
phạm hành chính và Quyết định số 62/QĐ-CCXP ngày 04/5/2023 về cưỡng chế
thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đều của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ban hành.
Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu trình
bày ý kiến tại Văn bản số 4040/UBND-NC ngày 15/6/2023 (Bút lục số 231 -
233): Ông Đào Chí T là cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Đồng thời
việc ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân thành phố B là đúng theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa
đổi, bổ sung năm 2020. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Đào Chí T.
Người đại diện theo ủy của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Đào Hồng P, bà Đào Mỹ D là bà Lê Thị Q trình bày:
Nguồn gốc hai thửa đất số 117, 118, tại Phường G, thành phố B là của bà
Trịnh Thị Thu Đ. Sau đó, ông Đào Hồng P nhận chuyển nhượng lại từ bà Trịnh Thị
Thu Đ vào năm 2021. Đối với phần đất thuộc thửa 117, tờ bản đồ số 53, sau khi
nhận chuyển nhượng trong cùng năm 2021 ông P đã tặng cho lại ông Đào Chí T,
đến năm 2023, ông T đã tặng cho lại bà Đào Mỹ D và đã được chỉnh lý biến động.
Đối với phần đất thuộc thửa 118, tờ bản đồ số 53, sau khi nhận chuyển nhượng
trong cùng năm 2021 ông P đã tặng cho lại ông Đào Chí T, đến năm 2023, ông T
tặng cho lại ông P phần đất này và đã được chỉnh lý biến động.
Trước đây, khi ông P mới nhận chuyển nhượng từ bà Trịnh Thị Thu Đ có
nộp đơn xin cấp Giấy phép xây nhà. Trong quá trình đang xin phép, ông Phước t
cho lại ông T và ông T tiếp tục xin phép việc xây nhà đến khoảng 06 tháng sau
được cơ quan có thẩm quyền trả lời là đất nằm trong quy hoạch nên không được
phép xây nhà. Sau đó, ông P yêu cầu ông T tặng cho lại ông P và bà D hai thửa đất
trên để khi có thu hồi bồi thường thì ông P và bà D sẽ là người nhận tiền bồi
thường. Ông P tiếp tục yêu cầu ông T làm đơn xin phép để lát gạch vỉa vè, xây
dựng hàng rào để giữ đất và lợp mái che để chứa đồ. Tuy nhiên, do quá lâu không
nhận được sự trả lời từ cơ quan có thẩm quyền mà đất thì có người đang chiếm
dụng nên ông P cho xây hàng rào và mái che trước khi có thủ tục cấp phép nhằm
mục đích bảo vệ đất và chứa đồ. Ông P, bà D giao ông T giám sát, trông coi tài sản
và công trình trên đất. Khi đang xây dựng thì ông T bị xử phạt vi phạm hành
chính. Ngoài ra, ông P, bà D không có ý kiến gì.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 18/2023/HCST ngày 25-7-2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản
2 Điều 116, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348 của Luật Tố tụng hành
chính;
- Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm
2020; Luật Xây dựng năm 2014;
- Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng;
- Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt;
- Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định
về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
Nghị định số 53/NĐ-CP ngày 08/5/2017 của Chính phủ quy định các
loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp phép xây dựng;
Quyết định số 24/2022/QĐ-UBND ngày 09/9/2022 của Ủy ban nhân dân
tỉnh B quy định về cấp Giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Chí T yêu cầu hủy Quyết
định số 22/QĐ-TG ngày 27/02/2023 về tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính, Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 03/3/2023 về xử phạt vi phạm hành
chính và Quyết định số 62/QĐ-CCXP ngày 04/5/2023 về cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính đều của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
Ngày 07-8-2023, người khởi kiện ông Đào Chí T có đơn kháng cáo toàn bộ
nội dung bản án hành chính sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Đào Chí T trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng
cáo, sửa bản án hành chính sơ thẩm, ông cho rằng ông chỉ là chủ đầu tư là người
xây nhà, mà ông chỉ là người giám sát công trình, không phải là người thực hiện
chính. Cha ông có nhờ ông đến cơ quan có thẩm quyền để xin cấp giấy phép xây
dựng nhiều lần nhưng chưa được cấp phép. Do thời gian chờ lâu nên cha ông có
thuê thợ đến xây dựng hàng rào, lợp mái tôn. Khi xây dựng được một phần thì bị
lập biên bản xử phạt, ông không đồng ý, việc xử phạt đối với ông là không đúng
đối tượng.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm: đề nghị
không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên bản án hành chính
số 18/2023/HC-ST ngày 25/7/2023 về việc “khiếu kiện Quyết định xử phạt hành
chính trong lĩnh vực xây dựng và giao thông đường bộ” của Tòa án nhân dân tỉnh
Bạc Liêu.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ
ý kiến của Viện kiểm sát, của người khởi kiện, người bị kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hình thức đơn kháng cáo của người khởi kiện trong hạn luật định nên
chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Ngày 07/8/2023 người khởi kiện ông Đào Chí T kháng cáo toàn bộ nội
dung bản án sơ thẩm số 18/2023/HC-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân
tỉnh Bạc Liêu. Đối chiếu với bản án sơ thẩm đã xét xử thì thấy:
[1] Về đối tượng khởi kiện: cấp sơ thẩm xác định đúng đối tượng khởi
kiện là các Quyết định của Chủ tịch UBND thành phố B gồm:
1/ Quyết định số 22/QĐ-TG ngày 27/02/2023 về tạm giữ tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính;
2/ Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 03/3/2023 về xử phạt vi phạm hành
chính;
3/ Quyết định số 62/QĐ-CCXP ngày 04/5/2023 về cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ Điều 116 Luật tố tụng hành chính cấp
sơ thẩm xác định còn thời hiệu đối với các quyết định trên là phù hợp.
[3] Xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của các Quyết định số 22, 24 và
62 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B thì thấy đúng thẩm quyền ban hành
văn bản.
[3.1] Về nội dung: Ngày 14/01/2021, ông Đào Hồng P (cha ông Đào Chí
T) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất số 117, 118 tờ bản đồ số 53 tại
phường G thành phố B từ hộ bà Trịnh Thu Đ (bà Đ đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất số DA 879237).
Ngày 04/02/2021, ông Đào Hồng P tặng cho hai thửa đất số 117 và thửa đất số
118, tờ bản đồ số 53 cho ông Đào Chí T. Ngày 17/01/2023, ông Đào Chí T tặng lại
cho bà Đào Mỹ D (chị ông T) thửa đất số 117, tờ bản đồ số 53 và tặng lại cho ông
Đào Hồng P thửa đất số 118, tờ bản đồ số 53 phường G thành phố B tỉnh Bạc Liêu.
Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 53, diện tích 41,12m² mục đích sử dụng là
đất ở, toàn bộ diện tích thửa đất này thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình
đường H và cống thoát nước ngầm. Thửa đất số 117, tờ bản đồ số 53, có diện tích
22,4m² mục đích sử dụng là đất ở, thửa đất này có 4,31m2 thuộc hành lang bảo vệ
an toàn công trình đường H, phần diện tích còn lại 18,09m² (chiều sâu 2,08m
chiều ngang 8,7m). Do thửa 118 và thửa 117 thuộc hành lang bảo vệ an toàn công
trình đường H nên không đủ điều kiện để cấp giấy phép xây dựng chính thức hoặc
có thời hạn. Mặt khác phần diện tích 18,09m² còn lại của thửa 117 không đảm
bảo theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 30/2021/QĐ-UBND ngày 01/10/2021
của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định về điều kiện tách thửa đối với từng loại đất
trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu thì phần diện tích này không đảm bảo yêu cầu về diện
tích, kích thước tối thiểu do đó không đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng theo
quy định. Như vậy, ông T không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây
dựng công trình nhưng ông T vẫn thực hiện, nên ngày 23/01/2023, Ủy ban nhân
dân phường G, thành phố B lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi dựng
công trình (hàng rào tạm) trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ tại thửa
đất số 117 và 118. Đồng thời ngày 23/02/2023 lập biên bản xác minh tình tiết của
vụ việc vi phạm hành chính cụ thể và đến ngày 03/3/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân thành phố B ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ-
XPHC đối với ông Đào Chí T đã thực hiện hành vi hành chính như sau:
- Về xây dựng: ông T có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình
không giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng. Hành vi
này đã vi phạm điểm a khoản 7 Điều 16 của Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày
28/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng.
- Về giao thông đường bộ: ông T có hành vi chiếm dụng hành lang an toàn
đường bộ để xây dựng nhà ở. Toàn bộ thửa đất số 118 (diện tích 41,12m²) và
4,31m² của thửa 117 thuộc hành lang bảo vệ công trình đường H. Vì vậy, Ủy ban
nhân dân phường G lập biên bản xác định hành vi của ông T chiếm dụng hành
lang an toàn đường bộ để xây dựng nhà ở tại hai thửa đất số 117, 118 là có căn cứ.
Do đó, các quyết định của Ủy ban nhân dân T xử phạt vi phạm hành chính đối với
ông T là có căn cứ, đúng thẩm quyền và phù hợp theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông T cho rằng ông không phải là người
quản lý, sử dụng hai thửa đất trên nên việc xử phạt vi phạm hành chính đối với
ông là không đúng đối tượng. Tuy nhiên, căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền được lập
ngày 08/02/2023 do ông Đào Hồng P và bà Đào Mỹ D ủy quyền cho ông Đào Chí T
thực hiện các công việc, trong đó có thực hiện thủ tục xin giấy phép xây dựng
công trình gắn liền với đất đối với các thửa đất nêu trên; giám sát quá trình thi
công, xây dựng và tham gia làm việc với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình
thi công, xây dựng công trình trên thửa đất nêu trên. Như vây, ông P bà D ủy
quyền cho ông T toàn quyền trong quá trình xây dựng từ việc xin phép xây dựng
đến giám sát công trình thi công. Mặc dù, cơ quan có thẩm quyền có văn bản trả
lời về hai thửa đất số 117, 118 không đủ điều kiện được cấp giấy phép xây dựng
nhưng ông T vẫn tổ chức thi công công trình. Ông T là người trực tiếp, thường
xuyên có mặt tại công trình chỉ đạo nhân viên làm việc, nên Chủ tịch Ủy ban nhân
dân thành phố B xác định ông T là chủ đầu tư và là đối tượng vi phạm hành chính
là đúng.
[3.2] Nhận định của Tòa án: Xét thấy, cấp sơ thẩm xét xử phù hợp theo
quy định của pháp luật và tại phiên tòa hôm nay phía người khởi kiện cũng không
đưa ra được những chứng cứ khác nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng
cáo của ông Đào Chí T.
Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị
không chấp nhận đơn kháng cáo của người khởi kiện, giữ y bản án sơ thẩm phù
hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do kháng cáo của người khởi kiện không được chấp nhận nên phải chịu
tiền án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Chí T, giữ nguyên quyết định
của bản án sơ thẩm số 18/2023/HC-ST ngày 25/7/2023 về việc “khiếu kiện Quyết
định xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng và giao thông đường bộ” của
Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Án phí hành chính phúc thẩm: ông Đào Chí T phải chịu 300.000 đồng
nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000480 ngày 10 tháng 8 năm 2023 của
Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Các thẩm phán |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
Hoàng Thanh Dũng Ngọc |
Phan Văn Yên |
|
Phan Tô |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |
Bản án số 1065/2023/HC-PT ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng và giao thông đường bộ.
- Số bản án: 1065/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng và giao thông đường bộ.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận đơn kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
