TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1063/2024/KDTM- ST
Ngày: 07/6/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Bính Thân.
2/ Bà Bùi Thị Hòa Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 326/2020/TLST-KDTM ngày 23 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐST-KDTM ngày 26 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2024/QĐST- KDTM ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V;
Địa chỉ trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thiên P, sinh năm 1996 - Có mặt;
Địa chỉ: Tầng A, số I C, Phường D, Quận C, TP. (Văn bản ủy quyền số 8819/2023UQ- PGĐ ngày 30/12/2023).
Bị đơn: Công ty T;
Địa chỉ: 3 đường D, Phường B, quận B, TP .;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Huỳnh Đăng Q, sinh năm 1989 - Vắng mặt;
Địa chỉ: 189B/A10B Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Quang M, sinh năm 1962 - Vắng mặt;
Địa chỉ: 1 L, Phường A, quận B, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản hòa giải do ông Trần Thiên P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 26/5/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng) ký Hợp đồng cho vay hạn mức số Q11/22371 với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T (gọi tắt là Công ty T) để Công ty T vay số tiền là 1.450.000.000 đồng, với mục đích bổ sung vốn lưu động cho hoạt động bán buôn phân phón, thuốc trừ sâu và các hóa chất khác sử dụng trong nông nghiệp, thời gian vay là 12 tháng tính từ ngày ký hợp đồng. Lãi suất vay trong hạn và cơ chế điều chỉnh lãi suất được bên Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận theo cung cầu vốn thị trường. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Ngày 02/11/2023, Công ty T ký khế ước nhận nợ số 021122-8251232-ONL-1 với Ngân hàng, số tiền vay là 1.450.000.000 đồng, thời hạn vay là 05 tháng tính từ ngày 02/11/2022 đến ngày 02/4/2023, mục đích vay là bổ sung vốn lưu động cho hoạt động buôn phân bón, thuốc trừ sâu và các hóa chất khác sử dụng trong nông nghiệp, lãi suất vay là 12.40%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong vòng 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/1 lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 02/12/2022, mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 5 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 1 tháng/lần tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,50%/năm.
Để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T tại Ngân hàng. Ngày 26/5/2022, ông Trần Quang M ký Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng, dùng tài sản của ông M là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 và quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 thuộc quyền sở hữu của ông Trần Quang M thế chấp cho Ngân hàng.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu Công ty T thanh toán tiền nợ vay nhưng Công ty T không thanh toán, nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Công ty T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.872.583.573 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.449.999.820 đồng + Tiền lãi trong hạn là 15.513.568 đồng, tính từ ngày 02/11/2022 đến ngày 09/3/2023 + tiền lãi quá hạn là 363.939.040 đồng, tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024 + tiền lãi trả chậm là 43.131.145 đồng tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Công ty T phải tiếp tục chịu lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên kể từ ngày 08/6/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ cho Ngân hàng, đồng thời Công ty T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.
Nếu Công ty T không thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 và thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 thuộc quyền sở hữu của ông Trần Quang M để thu hồi nợ. Nếu phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì ông Trần Quang M phải có nghĩa vụ thanh toán nợ thay cho công ty theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký.
- Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với Công ty T, ông Trịnh Huỳnh Minh Q1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty, nhưng Công ty T, ông Q1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với ông Trần Quang M, nhưng ông M vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tòa án tiến hành hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tuy nhiên Công ty T, ông Trịnh Huỳnh Minh Q1, ông Trần Quang M vắng mặt, không đến Tòa án và không cung cấp thêm chứng cứ nào khác, nên Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa: Ông Trần Thiên P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thời hạn theo quy định, đưa vụ án ra xét xử là quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Còn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Do bị đơn có trụ sở tại quận B nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn Công ty T, ông Trịnh Huỳnh Đăng Q là người đại diện theo pháp luật của bị đơn đến Tòa án tham gia phiên tòa vào ngày 14/5/2024 và ngày 07/6/2024 nhưng ông Công ty T, ông Trịnh Huỳnh Đăng Q là người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt không có lý. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Công ty T, ông Trịnh Huỳnh Đăng Q là người đại diện theo pháp luật của bị đơn.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Quang M đến Tòa án tham gia phiên tòa vào ngày 14/5/2024 và ngày 07/6/2024, nhưng ông M vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông M.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Ngân hàng yêu cầu Công ty T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.872.583.573 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.449.999.820 đồng + Tiền lãi trong hạn là 15.513.568 đồng, tính từ ngày 02/11/2022 đến ngày 09/3/2023 + tiền lãi quá hạn là 363.939.040 đồng, tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024 + tiền lãi trả chậm là 43.131.145 đồng, tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Công ty T phải tiếp tục chịu lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên kể từ ngày 08/6/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ cho Ngân hàng, đồng thời Công ty T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Nếu Công ty T không thanh toán các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 và thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 để thu hồi nợ. Nếu khi phát mãi tài sản thế chấp mà không đủ để thanh toán các khoản nợ cho nguyên đơn thì ông Trần Quang M phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên cho nguyên đơn thay cho bị đơn theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký.
[3.1] Xét, Ngân hàng yêu cầu Công ty T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.872.583.573 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.449.999.820 đồng + Tiền lãi trong hạn là 15.513.568 đồng, tính từ ngày 02/11/2022 đến ngày 09/3/2023 + tiền lãi quá hạn là 363.939.040 đồng, tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024 + tiền lãi trả chậm là 43.131.145 đồng tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Công ty T phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi phạt theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên kể từ ngày 08/6/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ cho Ngân hàng. Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số Q11/22371 ngày 26/5/2022 và Khế ước nhận nợ số 021122-8251232-ONL-1 ngày 02/11/2022, bảng kê tính lãi, bảng chi tiết tính công nợ khách hàng, theo dõi cho vay thu nợ thể hiện Công ty T đã vay của Ngân hàng số tiền là 1.450.000.000 đồng. Trong thời gian thực hiện việc trả nợ, Công ty T đã không thực hiện việc thanh toán đúng hạn, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu Công ty T thanh toán tiền nợ nhưng Công ty T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay. Việc vi phạm của Công ty T trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu Công ty T thanh toán tổng số tiền nợ là tổng số tiền là 1.872.583.573 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.449.999.820 đồng + Tiền lãi trong hạn là 15.513.568 đồng, tính từ ngày 02/11/2022 đến ngày 09/3/2023 + tiền lãi quá hạn là 363.939.040 đồng, tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024 + tiền lãi trả chậm là 43.131.145 đồng tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời Công ty T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 08/6/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ là phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/01/2009 của ngân hàng N hướng dẫn về lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng, nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Xét, Nguyên đơn yêu cầu trường hợp bị đơn không thanh toán các khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 06/4/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu và thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 10/5/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu để thu hồi nợ. Căn cứ Hợp đồng thế chấp ngày 26/5/2022 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L được cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 06/4/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu và thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L được cập nhật biến động ngày 10/5/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu. Xét việc các bên đương sự ký hợp đồng thế chấp tài sản được lập thành văn bản có công chứng tại tại Văn phòng C, có đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bình Thuận. Như vậy việc ký kết hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã tuân thủ đúng theo quy định tại các Điều 295, 298 317, 318, 319, 320, 345 Bộ luật dân sự và Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp này có giá trị pháp lý. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Trường hợp Công ty T thanh toán hết các khoản nợ nêu trên cho nguyên đơn thì nguyên đơn phải giải chấp tài sản và trả lại cho Công ty T toàn bộ bản chính các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 10/5/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 06/4/2022 do ông ông Trần Quang M là chủ sở hữu.
[3.3] Xét, Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (năm triệu đồng) do nguyên đơn đã tạm nộp theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 01/TB-TA ngày 15/01/2024, Hội đồng xét xử xét thấy: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
[3.4] Xét, Nguyên đơn yêu cầu nếu khi phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán các khoản tiền nợ cho nguyên đơn thì ông Trần Quang M phải có nghĩa vụ thanh toán nợ các khoản tiền nợ thay cho bị đơn theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ hợp đồng bảo lãnh số Q11/2237/HDBL ngày 26/5/2022, thể hiện ông M đã ký hợp đồng bảo lãnh với nguyên đơn để bảo lãnh cho khoản vay tiền của bị đơn bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông M. Khi ông M ký kết hợp đồng bảo lãnh với nguyên đơn thì ông M có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự. Nếu bị đơn không thanh toán tổng số tiền nợ nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh Q11/2237/HDBL ngày 26/5/2022 cho nguyên đơn thì ông M có phải thanh toán toàn bộ số tiền mà bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn. Căn cứ Điều 335, 336, 342 Bộ luật Dân sự; Điều 44 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên thì yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.
[4] Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do cũng không có bất kỳ phản hồi nào và không cung cấp bất cứ chứng cứ nào khác đối với yêu cầu của nguyên đơn, thể hiện bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thiếu tinh thần thiện chí trong việc thanh toán nợ và bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại Toà án để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét.
[5] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh,Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án và đưa ra ý kiến giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 152, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 295, Điều 298, 335, 336, Điều 340, Điều, 342, Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ; Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền là là 1.872.583.573 đồng, gồm: Nợ gốc là 1.449.999.820 đồng + Tiền lãi trong hạn là 15.513.568 đồng, tính từ ngày 02/11/2022 đến ngày 09/3/2023 + tiền lãi quá hạn là 363.939.040 đồng, tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024 + tiền lãi trả chậm là 43.131.145 đồng, tính từ ngày 10/3/2023 đến ngày 07/6/2024. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải tiếp tục chịu lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên kể từ ngày 08/6/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.
Nếu Công ty Trách nhiệm hữu hạn T không thanh toán các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 06/4/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 10/5/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu để thu hồi nợ.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải thanh toán số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn T, ông Trần Quang M thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản và trả lại toàn bộ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 10/5/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 06/4/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T và ông Trần Quang M.
Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428409, số vào sổ cấp GCN: CH00679 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 10/5/2022, và Quyền sử đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại địa chỉ Khu T xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài khác gắn liền với đất số BE 428408, số vào sổ cấp GCN: CH00680 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/6/2011 cho bà Thái Thị Thanh L và đã cập nhật biến động lần cuối cùng ngày 06/4/2022 do ông Trần Quang M là chủ sở hữu nhưng vẫn không đủ để thanh toán các khoản nợ cho nguyên đơn thì ông Trần Quang M phải có nghĩa vụ thanh toán nợ thay cho bị đơn theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 68.177.507, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T phải chịu, nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Hoàn tiền tạm ứng án phí là 28.643.000 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V theo Biên lai thu số AA/2022/0019474 ngày 09/6/2023 của Chi Cục thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T, ông Trần Quang M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Minh Thảo |
Bản án số 1063/2024/KDTM- ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1063/2024/KDTM- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
