Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1062/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2024.

V/v tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh
  2. Bà Phạm Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi: Ông Võ Ngọc Duy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 về: “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 377/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, Quyết định tạm ngưng phiên tòa số: 38/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1994
  2. Địa chỉ: Số C, đường số C, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

  3. Bị đơn: Anh Võ Thành Đ, sinh năm: 1982
  4. Địa chỉ: Số B, đường T, Ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. 3.1. Bà Ngô Thị M, sinh năm 1960.

    Địa chỉ: Số B, đường T, Ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

    3.2. Ông Võ Văn H, sinh năm 1958 (chết)

    Địa chỉ: Số B, đường T, Ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H gồm có:

  1. Chị Võ Thị Hồng N, sinh năm 1984
  2. Địa chỉ: Số B, đường T, Ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng)

  3. Chị Võ Thị Kim H1, sinh năm 1979
  4. Địa chỉ: Số B, đường T, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng)

  5. Ngân hàng Thương mại cổ phần S
  6. Địa chỉ trụ sở chính: Số B, đường N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ngươi đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đôc

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức A, chức vụ: Giám đốc chi nhánh H2.

    (Theo Quyết định số 3061/2021/QĐ-PL ngày 27/12/2021)

    Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lê Phong L, chức vụ: Trưởng phòng kiểm soát rủi ro. (Theo Giấy ủy quyền số: 401/2021/GUQ-CNHM ngày 01/12/2021)

    Địa chỉ liên lạc: Số A, đường L, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Có mặt)

  7. Công ty trách nhiệm hữu hạn X đẹp
  8. Địa chỉ: Số F, đường S, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn P, chức vụ: Giám đốc (Có đơn xin vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 24 tháng 11 năm 2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày như sau:

Chị và anh Võ Thành Đ tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 275 ngày 24/12/2019. Trong thời gian chung sống, chị phát hiện anh Đ hay nhắn tin với người phụ nữ khác, dù chị đã nhiều lần khuyên và cho thời gian anh Đ sửa đổi nhưng anh Đ vẫn không thay đổi để hàn gắn gia đình. Về nhà, anh Đ vẫn hắt hủi chị nên chị đã trở về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 01 năm 2021. Hiện tại chị và anh Đ không còn quan tâm, chăm sóc, thương yêu lẫn nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị xác định không có.

Về tài sản chung: Chị yêu cầu chia tài sản như sau:

+ Về vàng cưới: Chị và anh Đ đã tự giải quyết xong nên chị đã có đơn xin rút lại không yêu cầu Tòa án chia vàng cưới.

+ 01 căn nhà và đất diện tích 172,5m² (đo đạc thực tế là 166m² theo bản đồ hiện trạng ngày 15/9/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3) thửa số 694, tờ bản đồ số 53, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001). Đất và nhà đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S-Chi nhánh H2, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 242/2020/HĐTC-CNHM ngày 15/7/2020 cho khoản vay 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/7/2020 do chị và anh Đ ký tên vay. Nguồn gốc của nhà và đất này là do hai vợ chồng cùng mua. Đối với căn nhà được xây dựng vào năm 2021, thời điểm này chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên không rõ nguồn tiền từ đâu anh Đ xây dựng và cũng không rõ thời gian hoàn công. Chị yêu cầu chia đôi và chia theo giá trị thành tiền của căn nhà.

+ 01 căn nhà (biệt thự) có diện tích 350,41m² được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CS12562 do sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp cho anh Võ Thành Đ ngày 19/6/2018. Chị xác định đất là tài sản riêng của anh Đ có trước thời kỳ hôn nhân. Căn nhà được xây dựng vào năm 2020 và hoàn công vào tháng 12/2020, tiền xây dựng nhà là của hai vợ chồng bỏ ra xây. Chị chỉ yêu cầu chia đôi giá trị căn nhà, không yêu cầu chia đất. Đối với các công trình xây dựng khác như nhà bếp, nhà xe, nhà ăn, nhà mái ngói, sân, hàng rào chị xác định không tranh chấp. Chị xác định có đóng góp tiền để xây nhà, chị đưa trực tiếp nhiều lần cho anh Đ tổng cộng là 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng).

Về nghĩa vụ tài sản: Chị và anh Đ chỉ nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S-Chi nhánh H2 số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng). Từ lúc vay, chị có cùng trả nợ với anh Đ 05 tháng, do vợ chồng còn hòa thuận nên việc trả nợ Ngân hàng chị để cho anh Đ trực tiếp lo liệu. Nhưng đến tháng 01/2021 cho đến thời điểm hiện nay do mâu thuẫn vợ chồng nên chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên không có cùng anh Đ trả tiền hàng tháng cho Ngân hàng.

Đối với khoản vay Ngân hàng của bà M và ông H thì chị hoàn toàn không biết và không liên quan nên chị không chịu trách nhiệm liên đới trả nợ khoản vay của ông H và bà M. Nhưng thực tế chị có đóng góp để xây căn nhà có diện tích 350,41m² được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp GCN: CS12562 do sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp cho anh Võ Thành Đ ngày 19/6/2018.

- Bị đơn anh Võ Thành Đ trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Ngọc T tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 275 ngày 24/12/2019. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ khoảng tháng 01/2020, vợ chồng xảy ra tranh cãi, cuộc sống không hòa hợp, cha mẹ đôi bên có ngồi lại nói chuyện để hòa giải nhưng không được. Do công việc anh có tiếp xúc bên ngoài nhậu nhẹt với đối tác là điều anh không tránh khỏi, chị T không thông cảm, chia sẻ mà còn ghen tuông.

Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh xác định không có.

Về tài sản chung và nợ chung:

+ Về vàng cưới: Anh và chị T đã tự giải quyết xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ 01 căn nhà và đất diện tích 172,5m² thửa số 694, tờ bản đồ số 53 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh (Võ Thành Đ) theo hồ sơ số 003939.CN.001). Đất và nhà đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S-Chi nhánh H2, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 242/2020/HĐTC-CNHM ngày 15/7/2020 cho khoản vay 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/7/2020. Đất này có nguồn gốc do anh chuyển nhượng căn nhà tại thửa đất số 903, tờ bản đồ số 24, diện tích 134,3m² cho ông Nguyễn Văn T1 được 02 tỷ đồng, và vay thêm 02 tỷ đồng từ Ngân hàng để nhận chuyển nhượng lại đất thửa số 694, tờ bản đồ số 53. Từ lúc mua và vay Ngân hàng, chị T không có phụ anh trả nợ Ngân hàng và cũng không trả nợ cho Ngân hàng cùng với anh, do trong thời kỳ hôn nhân nên Ngân hàng yêu câu vợ chồng cùng ký tên vay, thực tế chỉ có cá nhân anh đứng tên giấy đất và trả nợ cho Ngân hàng hàng tháng. Thu nhập của chị T khoảng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) chưa đủ chi tiêu, chi phí phát sinh trong cuộc sống anh phải chi thêm cho chị T. Do đó, sau khi trả hết nợ Ngân hàng còn lại bao nhiêu anh sẽ chia theo công đóng góp của chị T. Từ khi vay cho đến nay, chỉ có anh trực tiếp trả tiền Ngân hàng hàng tháng cả gốc và lãi khoảng 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Tiền mà anh trả cho Ngân hàng để giữ tài sản này thì khi tòa giải quyết chia phải tính đến công sức đóng góp vào khối tài sản chung cho anh.

Để tiến hành xây dựng căn nhà nêu trên, anh có ký hợp đồng kinh tế số 1011/HĐTC-2021 với Công ty trách nhiệm hữu hạn X đẹp, địa chỉ: Số F, đường S - Quốc lộ B, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, chi phí để xây dựng là 1.800.394.000đ (Một tỷ tám trăm triệu ba trăm chín mươi bốn nghìn đồng), anh đã trả được 900.000.000₫ (Chín trăm triệu đồng) còn nợ lại 900.394.000đ (Chín trăm triệu ba trăm chín mươi bốn nghìn đồng). Số tiền 900.000.000đ (Chín trăm triệu đồng) là anh mượn tiền của bà M (mẹ ruột của anh) để trả.

+ 01 căn nhà (biệt thự) có diện tích 350,41m² được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12562 do sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp cho anh (Võ Thành Đ) ngày 19/6/2018. Đất và nhà được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S-Chi nhánh H2, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 79/2020/HĐTC-CNHM ngày 28/02/2020 do ông (Được) đảm bảo cho khoản vay 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 28/02/2020 của bà Ngô Thị M và ông Võ Văn H và theo văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 02/202024927443 ngày 21/12/2021, bà M và ông H vay thêm 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), tổng cộng là ông H và bà M nợ Ngân hàng 4.000.000.0xxxđ (Bốn tỷ đồng) và anh là người bảo lãnh khoản vay này cho cha mẹ. Căn nhà này do cha mẹ tạo lập và dùng làm nhà thờ cúng ông bà cha mẹ sau này. Chị T hoàn toàn không có đóng góp nếu chị T yêu cầu chia giá trị căn nhà thì chị T có trách nhiệm chứng minh công sức của chị đối với căn nhà này. Anh không đồng ý chia nhà. Anh là người bảo lãnh cho cha mẹ, cam kết khoản vay của cha mẹ nên cá nhân anh sẽ chịu trách nhiệm trả nợ cùng với cha mẹ không yêu cầu chị T liên đới trả nợ. Khi xây dựng căn nhà này, chị T có giúp anh làm thủ tục hành chính xin giấy phép xây dựng nên anh tự nguyện hỗ trợ chị T 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị M trình bày:

Nguyên bà và chồng là ông Võ Văn H có tại lập được khối tài sản chung là diện tích đất 1.047m² và hai vợ chồng có xây dựng nhà trên đất từ năm 1988. Vợ chồng bà sinh được 03 người con gồm Võ Thị Kim H1, Võ Thành Đ, Võ Thị Hồng N. Năm 2016, bà có sửa chữa lại căn nhà địa chỉ Số B, tỉnh lộ 15, Ấp I, xã T, huyện C (chị T đang tranh chấp) để làm nhà thờ cúng ông bà tổ tiên. Năm 2018, vợ chồng bà có tặng cho nhà và đất nêu trên cho anh Đ. Trên đất có xây 01 căn nhà có diện tích 350,41m² được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12562 do sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp cho anh Võ Thành Đ ngày 19/6/2018 có nguồn gốc do vợ chồng bà tạo lập và tặng cho lại anh Đ. Nhà do vợ chồng bà cùng chung sống với anh Đ. Đối với căn nhà này được thế chấp Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 79/2020/HĐTC-CNHM ngày 28/02/2020 do anh Đ đảm bảo cho khoản vay 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 28/02/2020 của bà và chồng là ông Võ Văn H và theo văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng só 02/202024927443 ngày 21/12/2021 bà và ông H vay thêm 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), tổng cộng 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng).

Căn nhà nêu trên là do vợ chồng bà tạo lập và để thờ cúng ông bà, chị T hoàn toàn không có đóng góp gì. Thời gian chung sống chị T chỉ ở được 01 năm, tuy nhiên trong khoảng thời gian đó chị T không làm tròn nghĩa vụ làm dâu, sáng đi làm đến gần tối mới về không phụ giúp được bà việc nhà. Bà cũng không biết chị T thu nhập bao nhiêu nhưng hoàn toàn không đóng góp chỉ tiêu trong gia đình. Quá trình làm nhà do vợ chồng bà và anh Đ đi vay mượn để xây cất. Bà thống nhất theo ý kiến của anh Đ không chia cho chị T căn nhà thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54.

Bà Minh xác n có cho anh Đ mượn số tiền 900.000.000đ (Chín trăm triệu đồng) và 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) để mua đất và xây căn nhà ở nằm trên đường T, thuộc thửa 694, tờ bản đồ số 53. Tuy nhiên, bà xác định không có yêu cầu độc lập đối với anh Đ.

2. Ngân hàng Thương mại cổ phần S có người đại diện theo ủy quyền ông L trình bày:

Anh Võ Thành Đ và chị Nguyễn Thị Ngọc T có vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/7/2020, số tiền vay 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), thời hạn vay 25 năm và có thế chấp diện tích đất 172,5m² thuộc thửa 694, tờ bản đồ số 53 tọa lạc tại xã T thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001).

Anh Đ còn ký Hợp đồng thế chấp diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CS12562 do sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp cho ông Võ Thành Đ ngày 19/6/2018 để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 28/02/2020 cho ông Võ Văn H và bà Ngô Thị M đối với khoản vay là 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng). Tháng 11 năm 2023, anh Đ đã thế chấp tài sản khác cho khoản vay của ông H, bà M.

Ngân hàng xác định Ngân hàng không có yêu cầu độc lập đối với chị T, anh Đ, bà M, ông H. Ngân hàng xác định anh Đ vẫn trả tiền vay cho Ngân hàng đầy đủ.

3. Ông Võ Văn H có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng gồm có chị Võ Thị Hồng N, chị Võ Thị Kim H1 trình bày:

Căn nhà số B, tỉnh lộ 15, Ấp I, xã T, huyện C là do cha mẹ chị là ông H và bà M tạo lập để làm nhà thờ cúng ông bà tổ tiên. Năm 2018, cha mẹ có tặng cho lại anh Đ. Thời điểm chị T về làm dâu cũng cùng thời điểm gia đình đang chữa sửa xây lại căn nhà để sau này thờ cúng ông bà tổ tiên. Chị T lương tầm 4.500.000đ/tháng nên không có khả năng đóng góp để cùng sửa chữa căn nhà. Chị T đi làm từ sáng đến gần tối mới về nhà, cuối tuần thì chị T đi chơi hoặc về nhà cha mẹ ruột chơi không đóng góp gì cho gia đình chồng.

Thống nhất theo ý kiến của bà M, anh Đ. Do bận công việc nên chị N và chị H1 xin Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

4. Công ty trách nhiệm hữu hạn X đẹp có người đại diện theo pháp luật ông Trần Văn P trình bày:

Ông không thể tham gia tại các phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hỏa giải của Tòa án nên ông đề nghị vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện và xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát huyện C phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kề từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 275 do Ủy ban nhân dân xã T cấp ngày 24/12/2019 thể hiện hôn nhân giữa chị T và anh Đ là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn thể hiện trong thời gian chung sống, chị phát hiện anh Đ hay nhắn tin với người phụ nữ khác, dù chị đã nhiều lần khuyên và cho thời gian anh Đ sửa đổi nhưng anh Đ vẫn không thay đổi để hàn gắn gia đình nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Phía anh Đ trình bày trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ khoảng tháng 9/2019, vợ chồng xảy ra tranh cãi, cuộc sống không hòa hợp, cha mẹ đôi bên có ngồi lại nói chuyện để hòa giải nhưng không được. Do công việc anh có tiếp xúc bên ngoài nhậu nhẹt với đối tác là điều anh không tránh khỏi. Chị T không thông cảm, chia sẻ mà còn ghen tuông. Nay chị T yêu cầu thi hôn thì anh Đ đồng ý.

Xét thấy tình cảm vợ chồng của anh T và anh Đ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân của nguyên đơn, bị đơn là có cơ sở, phù hợp với pháp luật và thực tế để các bên ổn định đời sống.

2.2. Về con chung: Anh Đ và chị T chưa có con chung.

2.3. Về nợ chung: Chị T, anh Đ, bà M và đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ chung của chị T, anh Đ nên không có cơ sở xem xét, giải quyết nợ chung.

2.4. Về tài sản chung

- Xét yêu cầu của nguyên đơn đề nghị chia đôi tài sản chung là nhà và quyền sử dụng đất diện tích 172,5m² thuộc thửa 694, tờ bản đồ số 53.

Hiện quyền sử dụng đất đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh H2 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 242/2020/HĐTC-CNHM ngày 16/7/2020.

Tại phiên tòa, chị T trình bày có đóng góp số tiền hơn 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) để cùng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 694 với anh Đ. Về nguồn gốc số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), chị T trình bày tuy lương công chức hàng tháng chỉ khoảng 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) đến 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) nhưng do bà T làm thêm công việc giấy tờ bên ngoài nên có nguồn thu nhập năm 2019-2020 khoảng 6.000.000.000₫ (sáu tỷ đồng), các khoản thu nhập thêm này chị đều góp vào quỹ chung của hai vợ chồng đặt trong tủ. Việc quản lý, sử dụng quỹ chung này chị T trình bày không lập sổ sách, cũng không biết anh Đ góp bao nhiêu tiền vào quỹ chung, việc sử dụng tiền quỹ chung chị cũng không nắm rõ. Xét thấy chị T chỉ đưa ra lời trình bày mà không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh, lời trình bày của chị T không phù hợp với thực tế khách quan, hàng tháng chị T thừa nhận có nhận thêm tiền sinh hoạt từ anh Đ nhưng lại góp số tiền 6.000.000.000đ (Sáu tỷ đồng) vào quỹ chung là có sự mâu thuẫn. Hơn nữa, chị T cũng thừa nhận không biết anh Đ dùng quỹ chung vào việc gì, việc góp tiền vào quỹ cũng không xác định cụ thể góp để làm gì, mua thửa đất nào, xây căn nhà nào. Do đó, không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của chị T về việc góp tiền để cùng nhận chuyển nhượng đất thuộc thửa 694 với anh Đ.

Phía anh Đ cung cấp tài liệu là hai Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký cùng ngày 20/6/2020 để chứng minh nguồn gốc quyền sử dụng đất thửa 694 là do hoán đổi quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn T1 bằng quyền sử dụng đất thửa 903, tờ bản đồ số 24, là tài sản riêng của anh Đ có trước thời kỳ hôn nhân, đồng thời số tiền chênh lệch giữa hai quyền sử dụng đất 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) là do vay từ Ngân hàng S1 theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/7/2020. Hơn nữa, tại thời điểm xây dựng nhà, chị T và chị Đ đã phát sinh mâu thuẫn và chị T đã chuyển về nhà mẹ ruột sinh sống, tại phiên tòa, chị T cũng thừa nhận không đóng góp công sức, tài sản vào việc xây dựng nhà, cũng như chưa từng sinh sống trên căn nhà tại thửa đất 694. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 33, khoản 2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng của mình thì quyền sử dụng đất đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Do đó, cần xác định nhà ở và quyền sử dụng đất thửa 694 là tài sản riêng của anh Đ, vậy nên yêu cầu của chị T đề nghị chia đôi tài sản chung là nhà và quyền sử dụng đất thửa 694 là không có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa, phía anh Đ đồng ý hỗ trợ số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do chị T có công sức trong việc giúp anh nhận hồ sơ cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cơ quan nhà nước. Xét thấy đây là sự tự nguyện của anh Đ, phù hợp với đạo đức xã hội, không trái quy định pháp luật, do đó, có cơ sở chấp nhận.

- Xét yêu cầu của nguyên đơn đề nghị chia đôi tài sản chung là căn nhà có diện tích 350,41m² được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54 xã T.

Tại phiên tòa, chị T xác định quyền sử dụng đất thửa 14 là tài sản riêng của anh Đ có trước thời kỳ hôn nhân. Còn căn nhà được xây dựng vào năm 2020, tiền xây dựng nhà là của hai vợ chồng bỏ ra xây, trong đó chị T đóng góp 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng).

Phía anh Đ trình bày tiền xây dựng ngôi nhà khoảng 7.000.000.000đ (Bảy tỷ đồng), trong đó 3.00.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) mượn từ mẹ là bà Ngô Thị M, còn 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng) vay từ Ngân hàng S1. Tuy nhiên, các Hợp đồng vay tiền được ký từ năm 2018, anh Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền vay được dùng vào việc xây dựng căn nhà trên thửa 14.

Phía đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần S xác nhận nhà và quyền sử dụng đất thửa 14 không còn thế chấp tại Ngân hàng. Căn cứ Biên bản định giá tài sản ngày 07/6/2023 thì giá trị căn nhà trên thửa đất 14 là 1.528.460.808₫ (Một tỷ năm trăm hai mươi tám triệu bốn trăm sáu mươi nghìn tám trăm lẻ tám đồng).

Xét thấy phía chị T chỉ đưa ra lời trình bày về việc đóng góp 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng) để xây nhà nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, còn phía anh Đ cũng không chứng minh được tiền xây nhà là tài sản riêng của anh Đ, do không đương sự nào chứng minh được căn nhà trên thửa 14 được xây dựng bằng tài sản riêng của mình nên căn cứ quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì căn nhà trên thửa 14 là tài sản chung của chị T, anh Đ.

Tuy nhiên, xét thấy mặc dù quyền sử dụng đất thửa 14 đã được bà M, ông H tặng cho anh Đ theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 004261 ngày 12/4/2018 tại Văn phòng C nhưng các đương sự đều xác nhận đây là căn nhà dùng để thờ cúng của anh Đ, và ba mẹ anh Đ là bà M, ông H cùng các con cháu vẫn sinh sống trên căn nhà này từ trước đến nay. Do đó, cần xác định anh Đ có công sức đóng góp nhiều hơn trong khối tài sản chung với chị T. Vì vậy, anh Đ được nhận 2/3 còn chị T nhận 1/3 giá trị căn nhà.

Xét thấy quyền sử dụng đất thửa 14 là tài sản riêng của anh Đ và hiện căn nhà trên đất do gia đình phía anh Đ sinh sống, do đó, cần tiếp tục giao cho anh Đ quyền sở hữu, sử dụng nhà, anh Đ có nghĩa vụ trả cho chị T 1/3 giá trị căn nhà theo Biên bản định giá tài sản ngày 07/6/2023.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc chi tài sản chung là vàng cưới trị giá khoảng 160.000.000đ: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đã tự thỏa thuận phân chia vàng cưới và rút lại yêu câu Tòa án chia tài sản chung đối với vàng cưới, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của đương sự.

Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 33, 43, 55, 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

  • Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị T được ly hôn với anh Đ;
  • Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc chia đôi tài sản chung là nhà và quyền sử dụng đất diện tích 172,5m² thuộc thửa 694, tờ bản đồ số 53. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đ hỗ trợ cho chị T số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng);
  • Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc chia giá trị căn nhà diện tích 350,41m² được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54 xã T, anh Đ được quyền sở hữu căn nhà, anh Đ có nghĩa vụ trả cho chị T 1/3 giá trị căn nhà theo Biên bản định giá tài sản ngày 07/6/2023;
  • Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc phân chia tài sản chung là số vàng cưới trị giá khoảng 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn xin ly hôn ghi ngày 24 tháng 11 năm 2021, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc trường hợp tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn là anh Võ Thành Đ có nơi cư trú tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 02/8/2024, Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Võ Hải D1, sinh năm 1985, địa chỉ: Số E, đường N, phường R, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang, anh D1 trình bày anh có thuê căn nhà số C, tỉnh lộ 15, Ấp A, xã T, huyện C (thuộc thửa 694, tờ bản đồ số 53) vào ngày 24/5/2024, tuy nhiên anh D1 cũng đang làm thủ tục trả lại nhà cho anh Võ Thành Đ do anh D1 đã tìm được chỗ ở khác. Anh D1 giao trả lại nguyên hiện trạng ban đầu và tranh chấp tài sản chung giữa chị T và anh Đ không ảnh hưởng quyên, lợi ích hợp pháp của anh nên anh D1 đề nghị Tòa án không đưa anh tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, anh D1 đã xác định không còn thuê nhà và cũng xác định quyền, lợi ích hợp pháp của anh không bị xâm phạm do đó Hội đồng xét xử không đưa anh D1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T:

Chị T và anh Đ tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 275 ngày 24 tháng 12 năm 2019 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn phát sinh: Chị T trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do chị phát hiện anh Đ hay nhắn tin với người phụ nữ khác, dù chị đã nhiều lần khuyên và cho thời gian anh Đ sửa đổi nhưng anh Đ vẫn không thay đổi để hàn gắn gia đình. Về nhà, anh Đ vẫn hắt hủi chị nên chị đã trở về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 01 năm 2021. Hiện tại chị và anh Đ không còn quan tâm, chăm sóc, thương yêu lẫn nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ. Anh Đ cũng xác định giữa mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ khoảng tháng 01/2021, vợ chồng xảy ra tranh cãi, cuộc sống không hòa hợp, cha mẹ đôi bên có ngồi lại nói chuyện để hòa giải nhưng không được. Do công việc anh có tiếp xúc bên ngoài nhậu nhẹt với đối tác là điều anh không tránh khỏi. Chị T không thông cảm, chia sẻ mà còn ghen tuông.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho các đương sự hàn gắn tình cảm, đồng thời giải quyết các mâu thuẫn phát sinh nhưng chị T và anh Đ không có nguyện vọng đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị T và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, chị T và anh Đ không còn tạo điều kiện cho nhau để thực hiện quyền, nghĩa vụ vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng trên thực tế không còn. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.

[3] Về con chung: Chị T và anh Đ xác định không có.

[4] Về nghĩa vụ tài sản của chị T và anh Đ:

Tại biên bản làm việc ngày 20/4/2022, Tòa án đã giải thích Ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc có yêu cầu độc lập đối với anh Võ Thành Đ, chị Nguyễn Thị Ngọc T, bà Ngô Thị M, ông Võ Văn H thì làm đơn khởi kiện yêu cầu độc lập do anh Đ có bảo lãnh thế chấp khoản vay của ông H, bà M bằng diện tích đất đang bị chị T tranh chấp. Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần S xác định không có yêu cầu độc lập đới với anh Đ, chị T, bà M, ông H đối với các khoản vay của bà M và ông H tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S trong vụ án tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung này.

Tại biên bản làm việc ngày 04/01/2024, bà Minh xác đ có cho cá nhân anh Võ Thành Đ mượn số tiền 900.000.000đ (Chín trăm triệu đồng) để xây dựng căn nhà nằm trên đường T, thuộc thửa 694 và trước đó bà M có cho mượn 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) để mua đất có diện tích 172,5m² thuộc thửa số 694, tờ bản đồ số 53, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH03866. Do anh Đ là con của bà M nên bà không có lập giấy tờ cho mượn tiền. Tòa án đã giải thích bà có yêu cầu độc lập để Tòa án giải quyết việc mượn tiền giữa bà và anh Đ trong vụ án này, nếu có yêu cầu độc lập thì làm đơn nộp và kèm tài liệu chứng cứ. Tuy nhiên, bà Minh xác đ không có yêu cầu độc lập trong vụ án này, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, Công ty trách nhiệm hữu hạn X đẹp, bà Ngô Thị M không có yêu cầu độc lập đối với chị T và anh Đ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình: “Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.” Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung này, các đương sự nếu có tranh chấp nghĩa vụ tài sản của chị T và anh Đ được quyền khởi kiện thành vụ án khác.

[5] Xét yêu cầu chia tài sản chung của chị T:

[5.1] Chị T có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với tài sản chung là vàng cưới do các bên đã thương lượng tự giải quyết xong. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung là vàng cưới.

[5.2] Đối với cây trồng trên đất chị T xác định không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với các loại cây trồng trên các diện tích đất mà chị T đang tranh chấp là phù hợp.

[5.3] Đối với yêu cầu chia đôi tài sản chung là 01 căn nhà và đất diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thửa số 694, tờ bản đồ số 53 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001).

[5.3.1] Xét nguồn gốc của tài sản chung:

Căn nhà và đất có diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thuộc thửa số 694, tờ bản đồ số 53 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho ông Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001) được xác lập vào ngày 10/7/2020 mặc dù nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý chuyển nhượng chỉ có tên anh Võ Thành Đ. Tuy nhiên, giao dịch dân sự này anh Đ xác lập trong thời kỳ hôn nhân của anh Đ và chị T. Giữa chị T và anh Đ không có văn bản thỏa thuận đây là tài sản riêng của anh Đ. Mặc khác, anh Đ cũng xác định đây là tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Đ, chị T.

[5.3.2] Xét về công sức đóng góp đối với tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:

Anh Đ trình bày đất và nhà có đất diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thửa số 694, tờ bản đồ số 53 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001) có nguồn gốc do anh Đ đã chuyển nhượng căn nhà tại thửa đất số 903, tờ bản đồ số 24, diện tích 134,3m² mà anh Đ đứng tên chủ sử dụng từ năm 2017 cho ông Nguyễn Văn T1 được giá thực tế là 02 tỷ đồng, và sau đó vay thêm 02 tỷ đồng từ Ngân hàng để nhận chuyển nhượng lại đất thửa số 694, tờ bản đồ số 53 từ ông Nguyễn Văn T1 vào ngày 20/6/2020. Anh Đ cung cấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đổi với thửa số 903, tờ bản đồ số 24 được ký kết giữa anh Đ và ông Nguyễn Văn T1 được công chứng tại Văn phòng C1 vào ngày 20/6/2020. Sau khi chuyển nhượng, anh Đ dùng số tiền này để tiếp tục nhận chuyển nhượng diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thửa số 694, tờ bản đồ số 53 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001). Để xây dựng căn nhà trên đất, anh Đ có mượn tiền của mẹ là bà Minh 9 (Chín trăm triệu đồng) và bà Minh xác n có cho anh Đ mượn tuy nhiên do có mối quan hệ mẹ con nên anh Đ và bà M không lập giấy tờ. Tại phiên tòa, chị T cũng xác nhận trong thời gian đang xây nhà chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên không rõ thời gian căn nhà hoàn công khi nào cũng không rõ nguồn tiền anh Đ đã chi cho việc xây nhà.

Đối với chị T do không chứng minh được số tiền, công sức của chị đóng góp vào để tạo lập khối tài sản chung là bao nhiêu. Do đó, xét công sức đóng góp thì anh Đ có tỷ lệ đóng góp nhiều hơn chị T. Bên cạnh đó, nhà và đất nêu trên đang thế chấp Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Anh Đ là người trực tiếp trả tiền từ lúc vay cho đến hiện tại. Chị T cũng xác định lúc vợ chồng còn hòa thuận thì việc trả tiền nợ Ngân hàng là do anh Đ trả, chị cũng có góp tiền trả được vài tháng sau đó do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ tháng 01/2021 cho đến thời điểm hiện nay nên chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên không cùng anh Đ trả tiền hàng tháng cho Ngân hàng. Do đó, đủ cơ sở xác định anh Đ là người có nhiều công sức đóng góp, giữ gìn khối tài sản chung của vợ chồng là căn nhà và diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thửa số 694, tờ bản đồ số 53.

Theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-BTP ngày 06/01/2016 quy định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn về “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn. Do đó, anh Đ được chia nhiêu hơn so với chị T mới đảm bảo tính công bằng, chị T được hưởng 10% giá trị tài sản nêu trên là phù hợp với công sức đóng góp của chị T.

Tại chứng thự thẩm định giá số 20/21/03/2024/TĐG-BĐS ngày 21/3/2024 của Công ty cổ phần T4 đề xuất tổng giá trị sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất thuộc thửa số 694, tờ bản đồ số 53 có giá làm tròn là 2.719.157.000₫ (Hai tỷ bảy trăm mười chín triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Do đó, anh Đ có trách nhiệm thanh toán lại 10% giá trị tài sản cho chị T tương đương thành tiền là 271.915.700đ (Hai trăm bảy mươi mốt triệu chín trăm mười lăm nghìn bảy trăm đồng). Anh Đ toàn quyền sở hữu, quản lý, sử dụng đối với nhà và đất diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thửa số 694, tờ bản đồ số 53 sau khi thanh toán xong tiền cho chị T.

[5.4] Đối với các công trình xây dựng khác như nhà bếp, nhà xe, nhà ăn, nhà mái ngói, sân, hàng rào được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp GCN: CS12562 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho anh Võ Thành Đ ngày 19/6/2018, tại phiên tòa chị T xác định không tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

Đối với yêu cầu chia giá trị 01 căn nhà (biệt thự) có diện tích 350,41m² (theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 15/9/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 căn nhà biệt thự (có ký hiệu số 4, 01 lầu mái ngói) có diện tích xây dựng là 183,8m²) được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp GCN: CS12562 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho anh Võ Thành Đ ngày 19/6/2018.

Tai Biên bản định giá tài sản ngày 07/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự giá trị căn nhà ở (biệt thự) có kết cấu móng bêtông cốt thép, tường xây gạch tô xi măng, sơn nước, nền gạch ceramic, mái ngói có giá: 6.400.000đ/m² x 90%; theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 15/9/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 căn nhà ở biệt thự (có ký hiệu số 4, 01 lầu mái ngói) có diện tích xây dựng là 183,8m², trị giá thành tiền: 1.058.680.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

Chị T và anh Đ đều xác định đất là tài sản riêng của anh Đ trước thời kỳ hôn nhân. Chị T xác định có đóng góp công sức để xây dựng ngôi nhà. Chị xác định chị góp nhiều lần tiền tổng cộng là 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng). Tòa án đã lập biên bản ngày 21/02/2023 yêu cầu chị T cung cấp, tài liệu chứng minh việc chị có đóng góp tuy nhiên tại phiên tòa chị vẫn không cung cấp được. Về khoảng thời gian kết hôn từ ngày 24/12/2019 đến tháng 01/2021, thời gian chị T chung sống cùng với gia đình anh Đ không lâu, chị T không chứng minh được chị đã gửi tiền để sửa chữa, xây dựng nhà này. Anh Đ, bà Minh xác đ không có nhận tiền phụ xây nhà như chị T trình bày. Do đó không có cơ sở chứng minh chị T đã đóng góp công sức vào xây căn nhà biệt thự thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54.

Mặc khác, căn nhà thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54 được vợ chồng bà M, ông H tạo lập, xây dựng từ năm 1988 và để thờ cúng ông bà. Năm 2018, ông H, bà Minh t cho lại anh Đ với điều kiện anh Đ phải chăm lo, phụng dưỡng, thờ cúng ông bà cha mẹ sau này. Đến tháng 4 năm 2020, căn nhà sửa chữa, được xây dựng lại khang trang, bà M và anh Đ đã cung cấp các tài liệu liên quan đến Hợp đồng tín dụng vay mượn tiền 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng) từ Ngân hàng Thương mại cổ phần S đây là nguồn gốc số tiền anh Đ đưa vào để xây dựng lại căn nhà này. Do đó, căn nhà này không phải là tài sản chung của chị T và anh Đ, chị T không chứng minh được chị đã đóng góp công sức nên không có cơ sở chia đôi giá trị tài sản là căn nhà thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của chị T chia đôi giá trị căn nhà có diện tích 183,8m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản số 54.

Ghi nhận tại sự tự nguyện của anh Đ hỗ trợ chị T 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do đã giúp anh Đ làm thủ tục hành chính xin giấy phép xây dựng.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tại phiên tòa đối với chia tài sản chung của đương sự không đồng nhất với những nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị về chia tài sản chung của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.

[7] Về các chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyêt là phù hợp.

[8] Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định là phù hợp.

Chị T phải chịu án phí trên giá trị tài sản chị T được nhận, buộc chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 16.095.785₫ (Mười sáu triệu không trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng)

Chị T phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu chia tài sản do không được chấp nhận, buộc chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 25.173.600đ (Hai mươi lăm triệu một trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm đồng).

Anh Đ phải chịu án phí trên giá trị tài sản anh Đ được nhận, buộc anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 80.944.826đ (T2 mươi triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi sáu đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các điều 33, 34, 51, 56, 59, 61, 62 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

1. Về quan hệ hôn nhân:

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Võ Thành Đ.

2. Về con chung: Chị T và anh Đ xác định không có.

3. Về nghĩa vụ tài sản: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, Công ty trách nhiệm hữu hạn X đẹp, bà Ngô Thị M nếu có tranh chấp được quyền khởi kiện thành vụ án khác.

4. Về tài sản chung:

4.1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn là vàng cưới.

4.2. Chấp nhận một phần yêu cầu của chị T về yêu cầu chia tài sản chung đối với căn nhà và diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thửa số 694, tờ bản đồ số 53 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001), buộc anh Đ có trách nhiệm thanh toán cho chị T số tiền 321.915.700đ (Ba trăm hai mươi mốt triệu chín trăm mười lăm nghìn bảy trăm đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Đ chưa thi hành trả số tiền nêu trên thì hàng tháng anh Đ còn phải trả cho chị T tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Anh Đ được toàn quyền sở hữu, quản lý, sử dụng căn nhà và diện tích 172,5m² (theo đo vẽ thực tế 166m²) thửa số 694, tờ bản đồ số 53 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH03866 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 04/11/2011 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 10/7/2020 chuyển nhượng cho anh Võ Thành Đ theo hồ sơ số 003939.CN.001).

4.3. Không chấp nhận yêu cầu của chị T đối với yêu cầu chia đôi giá trị 01 căn nhà ở ( biệt thự) có diện tích 350,41m² (thực tế có diện tích xây dựng là 183,8m² theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 15/9/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3, căn nhà ở biệt thự (có ký hiệu số 4, 01 lầu mái ngói)) được xây trên tổng diện tích đất 1.047,8m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 54, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CS12562 do sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp cho anh Võ Thành Đ ngày 19/6/2018.

5. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0043572 ngày 29/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Chị T đã nộp đủ.

Buộc chị T phải nộp số tiền 41.269.385₫ (Bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng) được trừ số tiền tạm ứng án mà chị T đã nộp 57.030.000đ (Năm mươi bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0043573 ngày 29/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Chị T, trả lại cho chị T số tiền 15.760.615₫ (Mười lăm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn sáu trăm mười lăm đồng.

Buộc anh Đ phải nộp số tiền 80.944.826đ (T2 mươi triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi sáu đồng).

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Túy Phượng

17

18

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1062/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung

  • Số bản án: 1062/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn giữa bà T và ông Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger