Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1062/2023/DS-PT

Ngày: 15-11-2023

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Thảo

Bà Trần Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2023/TLPT- DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4837/2023/QĐXXPT- DS ngày 17 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Ông Phan Đình H, sinh năm 1979; thường trú: Thị Trấn K' Bang, huyện K' B, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

    Bà Đoàn Thị Ngọc T, sinh năm 1977; địa chỉ liên lạc: C đường C, phường T, Thành phố T, Tp .. (Có đơn xin vắng mặt).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1983; địa chỉ liên lạc: A, đường T, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Anh K, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, K, khu phố C, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm:

Ý kiến trình bày của phía nguyên đơn- Phan Đình H và bà Đoàn Thị Ngọc T, như sau: Ông Phan Đình H (Viết tắt là “ông H”) và bà Đoàn Thị Ngọc T (Viết tắt là “bà T”) là vợ chồng. Cả hai đều là bạn của bà Nguyễn Thị Thanh D (Viết tắt là “bà D”). Vì là chỗ bạn bè nên ông H và bà T nhiều lần cho bà D vay tiền. Ngày 10 tháng 3 năm 2022, ông H và bà D đã lập văn bản chốt nợ, số tiền bà D nợ ông H tính đến thời điểm ngày 10 tháng 3 năm 2022 là 1.800.000.000 đồng. Ông H và bà D thống nhất: Tháng 4 năm 2022, bà D trả 50.000.000 đồng; từ tháng 5 năm 2022, mỗi tháng bà D trả 100.000.000 đồng; đến tháng 6 năm 2023 bà D sẽ trả hết số tiền còn lại. Tiền lãi được tính là 1% từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 cho đến ngày 10 tháng 03 năm 2022 trên số tiền là 1.800.000.000 đồng, sau ngày 10 tháng 3 năm 2022 không tính lãi. Thực tế đến Tháng 8 năm 2022 bà D đã trả được 200.000.000 đồng. Bà D đã vi phạm thỏa thuận cho nên ngày 01 tháng 9 năm 2022, ông H đã có văn bản gửi bà D có nội dung nhắc trả nợ. Tuy nhiên sau ngày đó, bà D vẫn không tiếp tục trả nợ. Ngoài ra, bà D còn nợ vợ ông H là bà T số tiền 85.500.000 đồng theo Bảng đối chiếu công nợ lập ngày 16 tháng 12 năm 2021 và chốt đến ngày 26 tháng 3 năm 2022 có chữ ký của bà T và bà D. Vì bà D vi phạm thời gian thanh toán nợ cho nên ông H, bà T đã có đơn khởi kiện yêu cầu bà D phải trả cho vợ chồng ông H, bà T số tiền vốn gốc là 1.685.500.000 đồng và tiền lãi từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 cho đến ngày 10 tháng 3 năm 2022 là 38 tháng 10 ngày x mức lãi suất 1% tháng trên số tiền là 1.800.000.000 đồng là 690.000.000 đồng và khoản tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ trả nợ được tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2022 cho đến ngày Tòa xét xử ngày 11 tháng 4 năm 2023 là 08 tháng 10 ngày theo mức lãi suất 0,83%/ tháng trên số tiền là 1.685.500.000 đồng là 115.880.000 đồng, tổng cộng cả vốn và lãi là 2.491.800.000 đồng; trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp.

Ý kiến trình bày của bị đơn - bà Nguyễn Thị Thanh D như sau: Bà D có nợ ông H số tiền là 1.600.000.000 đồng, không phải là 1.800.000.000 đồng như phía nguyên trình bày, số tiền mà ông H cho rằng bà D nợ vợ của ông là bà T là 85.500.000 đồng là không có, số tiền trên là tiền mà trước đây bà D hứa cho bà T đó không phải là nợ, vì là tiền hứa cho nhưng nay quá khó khăn nên không cho nữa. Hiện tại bà D đã mất khả năng về tài chính nên không chấp nhận trả lãi theo yêu cầu của phía nguyên đơn. Bà D chỉ chấp nhận trả số tiền 1.600.000.000 đồng, không chấp nhận trả tiền lãi và yêu cầu được trả dần mỗi tháng 20.000.000 đồng cho đến khi nào hết nợ.

Bản án sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H và bà T. Buộc bà D có nghĩa vụ trả cho ông H và bà T số tiền 2.491.380.000 đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.685.500.000 đồng và tiền lãi là 805.880.000 đồng, trả làm 01 lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 20/4/2023, phía bà D có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bày ý kiến như sau: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo của bà D và giữ nguyên nội dung Bản án sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị tính lại lãi suất chậm trả tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn trình bày ý kiến như sau: Vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Nguyên đơn cho bà D vay tiền nhiều lần từ năm 2019, theo Giấy xác nhận nợ ngày 24/7/2020 thì bà D còn nợ của ông H số tiền 1.800.000.000 đồng và lãi suất 1%; từ ngày 24/7/2020 đến ngày làm giấy Chốt nợ ngày 10/3/2022 bà D chưa trả tiền lãi cho ông H; đến ngày 10/3/2022 các bên làm giấy chốt nợ để không tính lãi từ ngày 10/3/2022. Phía bà D thống nhất chưa trả tiền lãi 1%/tháng từ tháng 01/2019 đến ngày 10/3/2022 đối với số tiền 1.800.000.000 đồng theo giấy xác nhận nợ ngày 24/7/2020 cho ông H như bản án sơ thẩm đã xác định. Đối với giấy chốt nợ ngày 10/6/2022 bà D đã trả cho ông H 200.000.000 đồng còn nợ 1.600.000.000 đồng đúng như bản án sơ thẩm đã nhận định; riêng số tiền 85.500.000 đồng là bà D cho bà T nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh; bà D đồng ý trả nợ gốc số tiền 1.600.000.000 đồng và tiền lãi, nhưng do hiện nay bà D quá khó khăn nên xin được trả dần số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng/tháng cho đến khi trả xong nợ và đề nghị phía nguyên đơn xem xét giảm lãi cho bà D. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính toán lại khoản tiền lãi mà bà D phải trả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quyền hạn, nhiệm vụ và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý vụ án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.
  • Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị đơn thực hiện quyền kháng cáo trong thời gian luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí; do vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
  • Về nội dung kháng cáo của bị đơn: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần lãi suất đối với số tiền 1.800.000.000 đồng từ ngày 01/01/2019 đến ngày 10/3/2023 là 684.054.000 đồng và tiền lãi chậm trả đối với khoản tiền nợ 1.600.000.000 đồng theo giấy chốt nợ ngày 10/3/2022 giữa bà D với ông H và số tiền 85.500.000 đồng theo nội dung chốt nợ ngày 26/3/2022 giữa bà D với bà T do tính toán chưa chính xác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra và kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Quyền và thời hạn kháng cáo: Ngày 20/4/2023, bà D có Đơn kháng cáo và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn theo quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; do vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với Bản án sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng pháp luật về thẩm quyền.

[1.2] Việc xét xử vắng mặt: Bà Đoàn Thị Ngọc T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; và tại phiên tòa ông H có lời trình bày xác định không ủy quyền cho ông Nguyễn Minh Đăng Q tham gia phiên tòa phúc thẩm nữa, ông H sẽ trực tiếp tham gia và trình bày ý kiến tại phiên tòa phúc thẩm; do vậy, Hội đồng xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2.] Xét kháng cáo của bà D đối với khoản tiền nợ gốc 85.500.000 đồng theo nội dung Chốt nợ ngày 26/3/2022 giữa bà D với bà T

Tại Bảng đối chiếu công nợ ngày 16/12/2021 có hàng chữ viết thêm với nội dung: “Chốt đến ngày 26/3/2022 – 150.000.000 đồng; nợ 85.500.000 đồng (T1 mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng chẵn)” được ký giữa bà D và bà T (nguyên đơn) là hoàn toàn tự nguyện không liên quan đến khoản nợ 1.800.000.000 đồng tại giấy Chốt nợ ngày 10/3/2020 giữa bà D với ông H (nguyên đơn). Do vậy, việc bà D cho rằng đây là khoản tiền bà D cho bà T là không có căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà D phải trả cho bà T và ông H số tiền 85.500.000 đồng theo nội dung Chốt nợ ngày 26/3/2022 nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên.

Tại phiên tòa, bà D xác định còn nợ và đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 1.600.000.000 (Một tỷ sáu trăm triệu) đồng tại giấy Chốt nợ đề ngày 10/3/2022; do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà D phải trả cho ông H và bà T số tiền nợ gốc 1.685.500.000 đồng: Bao gồm 85.500.000 đồng theo nội dung Chốt nợ ngày 26/3/2022 giữa bà D với bà T và 1.600.000.000 đồng tại giấy Chốt nợ ngày 10/3/2020 giữa bà D với ông H là có căn cứ và đúng tại các điều 385, 463, 465, 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Xét kháng cáo đối với việc tính lãi suất theo yêu cầu của bị đơn của Tòa án cấp sơ thẩm

[3.1] Đối với số tiền lãi trên số tiền nợ gốc 1.800.000.000 đồng theo giấy Chốt nợ ngày 10/3/2022 giữa bà D với ông Hưng

Xét, theo giấy Chốt nợ ngày 10/3/2022 có nội dung thể hiện: “Tiền lãi tính theo thời gian theo giấy mượn nợ trước được tính 1% của thời gian theo giấy mượn nợ trước đây, đến thời điểm này không tính lãi”.

Theo Giấy xác nhận nợ ngày 24/7/2020 do bà D viết có nội dung thể hiện: “Tôi có mượn nợ của anh Phan Đình H số tiền từ ngày 01/01/2019 đến nay là 1,8 tỷ đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng) tiền lãi theo thỏa thuận giữa hai bên".

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bà D có lời khai thừa nhận từ tháng 01/01/2019 đến khi làm giấy chốt nợ ngày 10/3/2022 bà D chưa trả tiền lãi cho ông H; việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà D chưa trả tiền lãi cho ông H là đúng; nhưng hiện do bà D khó khăn nên muốn thỏa thuận với ông H giảm lãi. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định và chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với số tiền 1.800.000.000 đồng từ ngày 01/01/2019 đến khi làm giấy Chốt nợ ngày 10/3/2022 là phù hợp với cam kết thỏa thuận lãi của các bên và quy định tại Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có sự tính toán chưa chính xác số tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 1.800.000.000 đồng từ ngày 01/01/2019 đến khi làm giấy Chốt nợ ngày 10/3/2022 là 38 tháng 09 ngày lãi suất 1%/tháng là 684.054.000 đồng chứ không phải là 690.000.000 đồng như bản án sơ thẩm đã xác định và ông H, phía bà D đồng ý tính lại số tiền lãi nêu trên cho đúng quy định của pháp luật.

[3.2.1] Đối với số tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ đối với số tiền 1.600.000.000 đồng còn nợ theo giấy Chốt nợ ngày 10/3/2022

Xét, theo thỏa thuận đến từ tháng 4/2022 bà D trả 50.000.000 đồng từ tháng 5/2022 trả 100.000.000 đồng/tháng cho đến tháng 6/2023 bà D phải trả hết nợ cho ông H. Tuy nhiên, đến tháng 8/2022 bà D mới trả được 200.000.000 đồng và từ tháng 9/2022 bà D không trả nợ; do vậy, tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ sẽ được tạm tính từ ngày 01/9/2022 cho đến ngày 11/4/2023 (ngày xét xử sơ thẩm) là 92.996.741 đồng.

[3.2] Đối với số tiền lãi trên số tiền nợ gốc 85.500.000 đồng theo giấy Chốt nợ ngày 26/3/2022 giữa bà D với bà Thúy

Xét, nội dung chốt nợ ngày 26/3/2022 tại Bảng đối chiếu công nợ ngày 16/12/2021 giữa bà D và bà T như đã xác định tại Mục [2] nêu trên không có nội dung thỏa thuận về lãi suất và thời gian trả lãi ngày 01/01/2019 đến ngày 10/3/2022. Tại thông báo đòi nợ ông H yêu cầu bà D phải trả tiền nợ chậm nhất đến ngày 31/8/2022 nhưng bà D không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 85.500.000 đồng theo nội dung chốt nợ ngày 26/3/2022; do vậy, có căn cứ xác định bà D phải trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền 85.500.000 đồng từ tạm tính từ ngày 01/9/2022 cho đến ngày 11/4/2023 (ngày xét xử sơ thẩm) là 4.969.513 đồng

Từ những phân tích tại Mục [3.1] và [3.2] việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà D phải trả tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền 1.685.500.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm phía bà D đề nghị trả nợ mỗi tháng 20.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ nhưng ông H không đồng ý nên không có cơ sở để

Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà D. Tuy nhiên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về thời gian tính lãi và số tiền lãi mà bà D phải trả cho ông H và bà T là có căn cứ; nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy cần phải xác định lại ngày chậm thực hiện nghĩa vụ là ngày 01/9/2022 (Chứ không phải là tính từ ngày 02/9/2022) đến ngày 11/4/2023 (Ngày xét xử sơ thẩm); và bà D phải cho ông H và bà T tổng số tiền 2.467.520.255 đồng; bao gồm: 1.685.500.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi trên số tiền tiền 1.800.000.000 đồng (Tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 10/3/2022) là 684.054.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 1.685.500.000 đồng là 97.966.255 đồng (Tạm tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 11/4/2023). Do nhầm lẫn về số ngày dẫn đến cấp sơ thẩm đã tính toán sai phần lãi suất; để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bà D cần sửa bản án sơ thẩm phần lãi suất và án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Đối với các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án cấp phúc thẩm không xem xét.

[5] Về án phí

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà D phải chịu án phí án dân sự sơ thẩm đối với số tiền 2.467.520.255 đồng do khởi kiện của ông H và bà T được chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh D không phải chịu án phí phúc thẩm do bản án sơ thẩm bị sửa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

Căn cứ Nghị quyết 326/2016UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh D
  2. Sửa Bản án sơ thẩm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Toà án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; cụ thể như sau:
    • - Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của ông Phan Đình H và bà Đoàn Thị Ngọc T.
    • - Buộc bà Nguyễn Thị Thanh D có trách nhiệm trả cho ông Phan Đình H và bà Đoàn Thị Ngọc T số tiền 2.467.520.255 đồng; bao gồm: 1.685.500.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi là 782.020.255 đồng.

Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành

Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự

3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm

  • - Trả lại cho ông Phan Đình H và bà Đoàn Thị Ngọc T số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 41.065.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, Lệ phí Tòa án số AA/2022/0006014 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bà Nguyễn Thị Thanh D phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 81.350.400 đồng.

3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại số tiền 300.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thanh D theo Biên lai thu tạm ứng án phí, Lệ phí Tòa án số AA/2023/0003271 ngày 09/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành án tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN/THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thảo

Trần Thị Thủy

Nguyễn Thị Minh Phượng

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tối cao;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - TAND tp. Thủ Đức- Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS tp. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (T/21).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1062/2023/DS-PT ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 1062/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh D 2. Sửa Bản án sơ thầm số 1085/2023/DS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger