TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HSST
Ngày: 30/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Nguyễn Đình Thức;
2/ Ông Phan Trọng Bình;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy T là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 124/2023/HSST ngày 03 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: PHẠM NGỌC MINH C; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1988 tại tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố T, Thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: B L, phường P, quận T, Thành phố Hồ chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1968; Chồng: Nguyễn Xuân C, sinh năm 1989, Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2011; nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: NGUYỄN HUY T2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993 tại tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ H, T, V, Thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: B L, phường P, quận T, Thành phố Hồ chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm công; Con ông Nguyễn Cảnh T3, sinh năm 1968 và bà Lê Thị T4, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1995; Con: 01 người, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Họ và tên: PHẠM VĂN ÚT T3; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1978 tại tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A, A, C, Đồng Tháp; Chỗ ở: A L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Thiên N1 (đã chết) và bà Quỳnh Thị T5, sinh năm 1935; Vợ: Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1985, Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị truy nã theo Quyết định số 1458/QĐTN-CSHS ngày 24/5/2024;(các bị cáo Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6 có mặt tại phiên tòa; bị cáo Phạm Văn Út T7 hiện đang bỏ trốn và đang bị truy nã)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 25/8/2022, Đ Công an quận T kết hợp Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính quán cà phê tại số B L, phường P, quận T, bắt quả tang Nguyễn Huy T6 đang ghi số đề cho Trương Hoàng T8, Xử Ngọc Anh H1 và Phạm Ngọc Minh C1 đang thống kê phơi đề nên đưa về Công an phường P để xử lý. Qua truy xét Công an quận T đã phát hiện Phạm Văn Út T7, là người mua số đề của T6 vào chiều cùng ngày nên đã đưa T7 về trụ sở Công an phường làm việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành lập biên bản làm việc, lập biên bản kiểm tra các nội dung tin nhắn mua bán số đề trên điện thoại di động hiệu Iphone 11 thu giữ của C1, điện thoại Iphone 12 thu giữ của T6, trên 26 tờ phơi đề của C1, 12 tờ phơi đề giấy của T6, 01 tờ phơi đề của H1, 01 tờ phơi đề của T8 và số tiền 5.100.000 đồng. Qua kiểm tra về cách thức mua bán số đề, đã xác định số tiền đánh bạc trong ngày của Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6 là 47.234.000 đồng, đã bao gồm tiền trúng thưởng 12.600.000 đồng của Phạm Văn Út T7.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Ngọc Minh C1 khai nhận: Khoảng giữa tháng 8/2022, đối tượng H2 (không rõ nhân thân, lai lịch) tới quán cà phê tại số B L, phường P, quận T, gặp C1 kêu C1 ghi số đề cho H2 để hưởng hoa hồng, nếu C1 ghi số đề được 1.000.000 đồng, thì H2 sẽ trả tiền công cho C1 là 29.000 đồng. Do cần có tiền trang trải cuộc sống nên C1 đồng ý nhận ghi số đề. C1 thuê Nguyễn Huy T6 hằng ngày phụ bán cà phê cho C1. Đến ngày 18/8/2023, C1 có kêu T6 phụ giúp C1 trong việc ghi số đề, khi khách đến ghi số đề nếu C1 bận việc thì T6 sẽ nhận ghi số đề cho K, toàn bộ phơi đề và tiền ghi đề thì Thục chuyển lại cho C1. Hình thức mua bán số đề của C1 là có hai cách mua số đề, cách thứ nhất: Khách đến gặp trực tiếp C1, T6 tại quán C2 địa chỉ B L, phường P, quận T để mua số đề. Khi khách đến và đọc những con số, đài muốn mua thì C1 sẽ sử dụng một cuốn sổ gồm hai liên: một liên màu trắng và một liên màu hồng. L màu hồng dùng để ghi số đề cho khách và khách giữ, liên màu trắng Châu giữ để đối chiếu với khách khi khách trúng. Cách thứ hai: Khách không đến mua trực tiếp được thì sẽ liên hệ cho C1, T6 để mua số đề qua số điện thoại của C1 là 0902.744.935, khách có thể gọi điện thoại đọc những con số cần ghi cho C1 hoặc có thể nhắn tin qua số điện thoại trên. Sau đó, C1 ghi những con số của khách đọc hoặc nhắn tin vào cuốn sổ gồm hai liên: một liên màu trắng và một liên màu hồng. Trường hợp C1 xác nhận đồng ý mua số đề thành công với khách là khi C1 ghi phơi đề ra sổ, nếu khách tới thì C1 đưa tờ phơi màu hồng cho khách còn C1 giữ lại tờ liên màu trắng để đối chiếu thắng thua. Có trường hợp khách ở xa không tới gặp lấy phơi và chưa đưa tiền, thì C1 cho nợ, ngày hôm sau có kết quả thắng thua, khách đến đọc con số đã ghi và C1 đối chiếu kết quả thắng thua, rồi thu tiền. Khi khách đến mua số đề, C1 sẽ giảm bớt cho khách 20% tổng số tiền khách mua đề. Khách mua số đề trực tiếp đưa tiền mặt cho C1 và T6 hoặc chuyển khoản cho C1 qua số tài khoản 09027339350 mở tại ngân hàng T10 tên chủ tài khoản P. Hằng ngày, sau khi ghi số đề cho khách, C1 gửi tin nhắn cho H2 bằng ứng dụng Telegram trước thời điểm xổ số hằng ngày. Sau 16 giờ hàng ngày, dựa trên kết quả xổ số của các đài để xác định ăn thua với tỷ lệ như sau: Nếu khách trúng số đề có 02 chữ số thì tỷ lệ thắng cược là gấp 72 lần số tiền mua số. Nếu khách trúng số đề có 03 chữ số thì tỷ lệ thắng cược là gấp 630 lần số tiền mua số. Nếu khách trúng số đề có 04 chữ số thì tỷ lệ thắng cược là gấp 5200 lần số tiền mua số. Khi khách thắng thì khách sẽ đến gặp C1 và đưa cho C1 tờ phơi màu hồng. Trường hợp khách chưa lấy phơi hồng thì sẽ đọc những con số đã ghi hoặc đối chiếu tin nhắn điện thoại. Sau đó, C1 đối chiếu với tờ phơi màu trắng, nếu thông tin trùng khớp thì C1 sẽ ứng tiền chung tiền thắng đề cho khách bằng tiền mặt hoặc sử dụng tài khoản ngân hàng I mở tại ngân hàng T10 tên chủ tài khoản PHAM NGOC MINH CHAU chuyển khoản cho khách, nhưng chủ yếu là đưa tiền mặt. Sau đó, C1 nhắn tin cho H2 yêu cầu chuyển khoản lại số tiền C1 đã chi ra để trả cho khách. C1 chỉ ghi số đề của khách chuyển cho H2 để hưởng hoa hồng, C1 không mua bán số đề với H2. Do lượng khách ghi đề có ngày có ngày không nên C1 không nhớ chính xác, chỉ nhớ C1 thu lợi, hưởng hoa hồng từ việc ghi số đề cho H2 khoảng 2.200.000 đồng, số tiền này C1 đã tiêu xài hết.
Ngày 25/8/2022, C1 ghi số đề cho 21 khách, với tổng số tiền là 24.532.000 đồng, do đều là khách vãng lai nên C1 không biết nhân thân, lai lịch của số khách này. Đối với những tờ phơi đề và tin nhắn điện thoại ghi trước ngày 25/8/2022, C1 đã xé bỏ và xóa hết. Cùng ngày, T6 đã phụ giúp C1 ghi số đề cho tổng cộng cho 12 khách vãng lai với số tiền là 10.102.000 đồng. Trong đó, có Phạm Văn Ú T7 là người mua đề trong ngày 25/8/2022, số tiền 128.000 đồng, kết quả sổ xố trúng 12.600.000 đồng. Khi kiểm tra, cơ quan Công an thu giữ số tiền 5.100.000 đồng là số tiền ghi số đề trong ngày 25/8/2022. C1 xác định có sự chênh lệch giữa tiền trên phơi và tiền thu giữ là do một số khách tới ghi số đề chưa đưa tiền. C1 có thỏa thuận với họ sau khi có kết quả xổ số sẽ tính thắng thua và trả tiền sau.
Nguyễn Huy T6 khai: Thục và C1 là chị em họ hàng. Khoảng tháng 3/2022, T6 phụ bán cà phê cho C1, tại địa chỉ B L, phường P, quận T. Đến ngày 18/8/2023, C1 nói với T6 phụ bán cà phê cho C1 và nếu khách cần mua đề mà C1 bận sẽ phụ giúp C1 ghi và nhận tiền, sau đó T6 chuyển số đề cũng như tiền cho C1, T6 đồng ý. Thục không ghi đề riêng với khách, T6 không hưởng hoa hồng, mỗi ngày C1 cho T6 từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, là tiền Thục phụ bán cà phê và phụ giúp C1 ghi đề. Số tiền công T6 hưởng lợi tù việc ghi số đề cho C1 khoảng 500.000 đồng. Thục đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Trong ngày 25/8/2022, T6 đã ghi đề tổng cộng 12 khách, trong đó có Trương Hoàng T8, Xử Ngọc Anh H1 và Phạm Văn Út T7, còn lại là khách vãng lai nên T6 không biết rõ nhân thân lai lịch. Tổng số tiền T6 ghi bán số đề trong ngày là 10.102.000 đồng. Trong đó, T6 ghi số đề cho Phạm Văn Út T7 với số tiền 128.000 đồng và T7 thắng với số tiền là 12.600.000 đồng, thì C1 đã chuyển T7 số tiền 11.600.000 đồng, T7 cho T6 số tiền 1.000.000 đồng. Thục đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Phạm Văn Út T7 khai nhận: Vào lúc khoảng 15 giờ ngày 25/8/2022, T7 đến địa chỉ B L, phường P, quận T, gặp Nguyễn Huy T6, mua đề với số tiền 128.000 đồng, gồm xỉu chủ 725,752 hai đài Tây Ninh và An Giang. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, T7 dò kết quả xổ số đài Tây Ninh, T7 thắng với số tiền là 12.600.000 đồng, T7 đến gặp T6, T7 cho T6 1.000.000 đồng, trong số tiền thắng đề, số tiền còn lại 11.600.000 đồng, Phạm Ngọc Minh C1 chuyển khoản qua số tài khoản 060039514314, mở tại ngân hàng S, mang tên Phạm Văn Út T7. Đến 20 giờ cùng ngày, Công an mời T7 về Phường làm việc. T7 đã giao nộp cho cho Cơ quan điều tra số tiền 11.600.000 đồng. Đây là lần đầu tiền tám gặp T6 để mua số đề.
* Vật chứng:
Tạm giữ của Phạm Ngọc Minh C1:
- Số tiền Việt Nam 5.100.000 đồng là tiền C1 ghi số đề cho khách trong ngày 25/8/2022;
- Một (01) bút bi màu xanh C1 sử dụng để ghi số đề;
- Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu xanh có số IMEI: 352852113362089 là điện thoại C1 sử dụng mua bán số đề;
- Hai mươi mốt (21) tờ phơi màu trắng C1 ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022 lưu kèm hồ sơ vụ án;
- Năm (05) tờ phơi màu hồng C1 ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022. Lưu kèm hồ sơ vụ án;
Tạm giữ của Nguyễn Huy T6:
- Mười hai (12) tờ phơi màu trắng, Thục ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022 lưu kèm hồ sơ vụ án;
- Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, IMEI: 356683113858222 là điện thoại Thục sử dụng mua bán số đề;
Tạm giữ của Phạm Văn Ú Tám gồm:
- Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 6S, IMEI: 353308077684058 là điện thoại T7 dùng nhận tiền thắng số đề từ C1;
- Tiền mặt 11.600.000 đồng, là tiền T7 thắng được từ việc mua số đề trong ngày 25/8/2022;
Tạm giữ Xử Ngọc Anh H1:
- Một (01) tờ phơi màu hồng. Phơi đề H1 mua đề ngày 25/8/2022. (Lưu kèm hồ sơ vụ án);
Tạm giữ Trương Hoàng T8:
- Một (01) tờ phơi màu hồng. Phơi đề H1 mua đề ngày 25/8/2022. (Lưu kèm hồ sơ vụ án);
- Một (01) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh ghi âm, ghi hình lời khai của các bị can (Đã lưu hồ sơ vụ án);
- Một (01) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh camera ghi nhận sự việc đánh bạc tại tại quán cà phê tại số B L, phường P, quận T (Đã lưu hồ sơ vụ án);
Các vật chứng trên hiện tại được nhập Kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 65/LNK-CSHS ngày 17/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Về phần dân sự: Không;
Bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 01 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6, Phạm Văn Út T7 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Minh C1 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Huy T6 mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt các bị cáo Phạm Văn Ú Tám mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;
Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo Phạm Ngọc Minh C1, Phan Huy T9 nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của bị cáo Phạm Văn Út T7: trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo T7 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Tòa án đã tiến hành lập biên bản xác minh và ra Quyết định bắt tạm giam. Ngày 15/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 1721/ CATP-CSHS thông báo về kết quả thi hành Quyết định bắt tạm giam kết quả bị cáo đã bỏ trốn, nên không thể thi hành Quyết định bắt tạm giam. Ngày 24/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định truy nã số 1458/QĐTN-CSHS nhưng vẫn không có kết quả. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo Phạm Văn Út T7.
[3] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 25/8/2022, tại quán cà phê tại số B L, phường P, quận T, Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6, đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề thắng thua bằng tiền với Trương Hoàng T8, Xử Ngọc Anh H1, Phạm Văn Út T7 và nhiều người khác, với tổng số tiền là 47.234.000 đồng, trong đó Phạm Văn Út T7 đã trúng thưởng với số tiền là 12.600.000 đồng, thì bị bắt giữ. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng hành vi của các bị cáo mang tính tự phát, không có sự phân công rõ ràng nên không thuộc trường hợp “phạm tội có tổ chức”;
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Hậu quả của các hành vi nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm hại đến trật tự công cộng ở tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tài sản của công dân vì đánh bạc là tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo từ bỏ con đường phạm pháp, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa các tệ nạn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân và xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.
Đối với đối tượng Trương Hoàng T8, Xử Ngọc A Huỳnh tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, chưa có kết quả thắng thua. Qua xác minh tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức mua các số đề” là có căn cứ.
Đối với các đối tượng khác đã mua bán số đề với Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng chưa xác định được. Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với đối tượng H2, do Phạm Ngọc M C1 không biết rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành thu thập tài khoản Ngân hàng số tài khoản 19034465737010, tên Lê Công H3, ngân hàng T11. Kết quả xác minh hộ khẩu thường trú: Công an Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, xác minh Lê Công H3, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhưng hiện nay không cư trú tại địa phương. Xác minh tại nơi cư trú: Công an phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, xác định Lê Công H3 không đăng ký hộ khẩu thường trú, không đăng ký tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ A Miếu G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra thông báo truy tìm và ra Quyết định tách nguồn tin về tội phạm để tiếp tục điều tra, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6, Phạm Văn Út T7 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo C1 hiện là lao động chính trong gia đình, nuôi 02 con nhỏ, trong đó có 01 con dưới 36 tháng tuổi, bị cáo Thục giữ vai trò hạn chế, là người làm công giúp việc cho bị cáo C1 trong việc bán cà phê, quá trình điều tra bị cáo T7 đã chủ động nộp lại số tiền 11.600.000 đồng là tiền thắng bạc để khắc phục hậu quả của vụ án; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6 phạm tội ít nghiêm trọng, nhân thân tốt và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định, trong quá trình tại ngoại chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước, không vi phạm pháp luật, các bị cáo đa số đều là người lao động có trình độ học vấn thấp nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) do đó nghĩ không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà nghĩ chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo không tiếp tục phạm tội, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội;
Trong vụ án này, bị cáo C1 giữ vai trò chính, bị cáo Thục giữ vai trò là đồng phạm giúp sức cho C1 trong việc ghi số đề cho khách nên hình phạt dành cho bị cáo C1 có phần nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác. Đối với bị cáo T7 quá trình điều tra đã bỏ trốn và bị truy nã, gây không ít khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án do đó đây cũng là điểm cần lưu ý khi Quyết định mức hình phạt;
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên miễn cho các bị cáo;
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với hai mươi mốt (21) tờ phơi màu trắng C1 ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022; 05 tờ phơi màu hồng C1 ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022; mười hai (12) tờ phơi màu trắng, Thục ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022; một (01) tờ phơi màu hồng là phơi đề Huỳnh mua đề ngày 25/8/2022; một (01) tờ phơi màu hồng là phơi đề Huỳnh mua đề ngày 25/8/2022. Đây là các con số đề, ngày ghi, các đài ghi và số tiền ghi đề giữa các bị cáo và khách, là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án;
Đối với một (01) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh ghi âm, ghi hình lời khai của các bị can; một (01) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh camera ghi nhận sự việc đánh bạc tại tại quán cà phê tại số B L, phường P, quận T. Đây là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án;
Đối với một (01) bút bi màu xanh. Đây là dụng cụ C1 sử dụng để ghi số đề, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với số tiền 5.100.000 đồng là tiền C1 ghi số đề cho khách trong ngày 25/8/2022 và số tiền 11.600.000 đồng là tiền T7 thắng được từ việc mua số đề trong ngày 25/8/202 là tiền dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu xanh có số IMEI: 352852113362089; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh có số IMEI: 356683113858222; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 6S có số IMEI: 353308077684058. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các điện thoại các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc đánh bạc ăn tiền nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Các vật chứng trên hiện tại được nhập Kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 65/LNK-CSHS ngày 17/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
[7] Về tiền thu lợi bất chính: Quá trình điều tra xác định bị cáo C1 hưởng lợi từ việc ghi số đề cho khách 2.200.000 (hai triệu hai trăm ngàn) đồng; bị cáo T6 hưởng lợi từ việc ghi số đề cho khách số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo nộp lại số tiền trên để sung vào Ngân sách Nhà nước;
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6, Phạm Văn Út T7 phạm tội “Đánh bạc”.
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
P1 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Huy T6 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Phạm Văn Út T7 01 (một) năm tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án;
Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho các bị cáo;
Buộc bị cáo Phạm Ngọc Minh C1 nộp lại số tiền 2.200.000 (hai triệu hai trăm ngàn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước;
Buộc bị cáo Nguyễn Huy T6 nộp lại số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- * Áp dụng điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Lưu vào hồ sơ vụ án: hai mươi mốt (21) tờ phơi màu trắng C1 ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022; năm (05) tờ phơi màu hồng C1 ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022; mười hai (12) tờ phơi màu trắng, Thục ghi đề cho khách trong ngày 25/8/2022; một (01) tờ phơi màu hồng là phơi đề Huỳnh mua đề ngày 25/8/2022; một (01) tờ phơi màu hồng là phơi đề Huỳnh mua đề ngày 25/8/2022; một (01) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh ghi âm, ghi hình lời khai của các bị can; một (01) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh camera ghi nhận sự việc đánh bạc tại tại quán cà phê tại số B L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Tịch thu tiêu huỷ một (01) bút bi màu xanh;
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: số tiền 16.700.000 đồng;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu xanh có số IMEI: 352852113362089; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh có số IMEI: 356683113858222; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 6S có số IMEI: 353308077684058;
Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 65/LNK-CSHS ngày 17/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;
(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 106/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 106/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phạm Ngọc Minh C1, Nguyễn Huy T6, Phạm Văn Út T7 phạm tội “Đánh bạc”.
