Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/HS-ST

Ngày 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thiện

Bà Phạm Thị Yến

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2023/TLST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2023/QĐ-HPT ngày 19 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Đào Phú A, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1975 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số G P, Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Giám đốc; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Phú Q (đã chết) và bà Đào Thị C; có vợ là Nguyễn Thị T và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/02/2023; có mặt.
  2. Đào Thị Thùy D, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số G P, Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Phú C1 (đã chết) và bà Vũ Thị L; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/02/2023; có mặt.
  3. Lưu Thị Mai A1, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Trung T1 (đã chết) và bà Phạm Thị N; có chồng (đã ly hôn), có 1 con, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/02/2023; có mặt.
  4. Phạm Thị M, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số E Đ, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3; có chồng là Lê Văn S và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/4/2023; có mặt.

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị M1; chị Đặng Thị T4; anh Phạm Văn M2; chị Lương Thị M3; chị Phạm Thị H; anh Đoàn Thành T5; chị Đỗ Thị T6; chị Phạm Thị R; chị Bùi Hương T7; chị Phạm Thị Thu H1 và chị Bùi Thị Minh T8. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2007, Đào Phú A thành lập và làm Giám đốc Công ty TNHH T9 (gọi tắt là Công ty T9), địa chỉ trụ sở: Số G P, Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Năm 2013, Phú A mở xưởng sửa chữa ô tô thuộc Công ty T9 tại địa chỉ: Số A đường C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Năm 2018, Đào Phú A thành lập Công ty TNHH D1 (gọi tắt là Công ty D1), địa chỉ trụ sở: số B Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Đào Phú A đã thực hiện việc kinh doanh của 02 Công ty theo đăng ký kinh doanh được cấp, trong đó có ngành nghề: Vận tải đường bộ, bảo dưỡng, sửa chữa ô tô, bán phụ tùng, các bộ phận phụ trợ xe...và khai báo nộp thuế theo địa chỉ số B khu tập thể quân đội thuộc phường V, quận N, thành phố Hải Phòng (viết tắt là Văn phòng Công ty).

Từ khi thành lập, Công ty T9Công ty D1 đăng ký kê khai, nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực L2 – D và đăng ký phát hành sử dụng hóa đơn giấy. Đến ngày 30/11/2021, Công ty D1 đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử; ngày 29/3/2022, Công ty T9 đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử. Công ty T9 đã kê khai nộp thuế GTGT đến tháng 12/2022; Công ty D1 đã kê khai nộp thuế GTGT đến tháng 02/2023.

Quá trình thực hiện ngành nghề kinh doanh vận tải của 02 Công ty, Phú A đã mua nhiều xe container, gồm các xe BKS: 16L - 8160, 16L - 8042, 16N - 3733, 16N - 3730, 16M - 1783, 15C - 315.91, 15C - 330.80, 15C - 342.74, 16L – 8130 (sau đổi thành 15H 03.621) và thuê lái xe theo thời vụ. Từ khi thành lập đến hết năm 2018, Phú A thuê Lưu Thị Mai A1 làm kế toán, sau đó thuê Đào Thị Thùy D làm kế toán làm việc tại Văn phòng Công ty. Thuê chị Đặng Thị Mai A2 (sinh năm 1980, trú tại: Số A Chợ C, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng) làm dịch vụ kế toán thuế, có nhiệm vụ đến lấy chứng từ về tập hợp, kê khai báo cáo thuế theo kỳ (không làm việc trực tiếp tại Văn phòng Công ty). Thuê chị Phí Thị P (sinh năm 1983, trú tại: Số A phố P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) làm quản lý xưởng sửa chữa xe ô tô, nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp, nhập kho hàng hóa và quản lý thợ sửa chữa (thuê theo thời vụ). Ngoài ra, còn có Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 (vợ Phú A) có nhiệm vụ chuyển lệnh, trả tiền hàng, thanh toán tiền lương cho lái xe, kế toán... theo sự chỉ đạo của Phú A.

Quá trình hoạt động, Công ty T9Công ty D1 có một số khách hàng không lấy hóa đơn GTGT khi sử dụng dịch vụ vận tải nên từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022, Phú A đã chỉ đạo Đào Thị Thùy D xuất bán trái phép 50 số hóa đơn GTGT (gồm cả hóa đơn giấy và hóa đơn điện tử) ghi tên 14 doanh nghiệp sử dụng, ghi khống tổng số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế trên 50 số hóa đơn là 5.028.289.365 đồng, với giá bán từ 6,5% - 7% trên tổng giá trị tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế, thu lời bất chính số tiền là 331.360.333 đồng. Trong đó, Công ty T9 bán trái phép 04 số hóa đơn giấy và 40 số hóa đơn điện tử; Công ty D1 bán trái phép 06 số hóa đơn điện tử.

Để thực hiện việc bán trái phép hóa đơn, căn cứ vào thông tin khách hàng gửi, Phú A chỉ đạo Đào Thị Thùy D trực tiếp soạn thảo hợp đồng, viết hóa đơn giấy và tạo lập hóa đơn điện tử bán cho khách hàng. D cũng là người được giao quản lý con dấu, chịu trách nhiệm hợp thức hóa thủ tục, chứng từ, chuyển khoản đảo tiền, rút tiền mặt và thanh toán trả lại cho khách hàng sau khi đã trừ đi tiền mua hóa đơn. Để hợp thức hóa thủ tục mua bán hóa đơn như có giao dịch thật, Phú A thỏa thuận với khách hàng là sẽ thanh toán chuyển khoản đối với những hóa đơn GTGT có giá trị hàng hoá, dịch vụ trên 20.000.000 đồng từ tài khoản của bên mua vào tài khoản của bên bán. Sau đó, D trực tiếp dùng giấy giới thiệu, séc rút tiền mặt đã có sẵn chữ ký của Phú A và tự ghi nội dung vào để làm thủ tục rút tiền; sau khi khấu trừ đi số tiền bán hoá đơn, số tiền còn lại D thanh toán trả lại cho các cá nhân, doanh nghiệp bằng tiền mặt qua người mua. Cụ thể việc mua bán 50 số hóa đơn như sau:

  1. Bán cho Lưu Thị Mai A1 29 số hóa đơn (gồm Công ty T9 phát hành 23 số hóa đơn, Công ty D1 phát hành 06 số hóa đơn) ghi khống tổng số tiền hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 3.988.014.365 đồng, với giá 6,5%, thu lời bất chính số tiền là 259.220.933 đồng. Lưu Thị Mai A1 bán lại 29 số hóa đơn cho 08 doanh nghiệp với giá 6,6%, hưởng lợi 0,1%, thu lời bất chính là 3.988.014 đồng. Cụ thể:
    • Mai A1 bán cho Đặng Thị T4 (sinh năm 1989, trú tại: Số A đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) 03 số hóa đơn do Công ty T9, Công ty D1 phát hành cho Công ty cổ phần V và kinh doanh tổng hợp (mã số thuế 0200373457) 01 số hóa đơn; Công ty cổ phần T10 (mã số thuế 0201958120) 02 số hóa đơn ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 879.100.000 đồng.
    • Bán cho Phạm Văn M2 (sinh năm 1989, trú tại: T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) – Kế toán Công ty TNHH L3 (mã số thuế 0201784019) 02 số hóa đơn do Công ty T9 phát hành ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 419.450.000 đồng.
    • Bán cho Lương Thị M3 (sinh năm 1989, trú tại: số B Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) – Kế toán Công ty TNHH T11 (mã số thuế 0201793341) 04 số hóa đơn do Công ty D1 phát hành ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 860.880.000 đồng.
    • Bán cho N (không rõ họ tên, địa chỉ) – tự giới thiệu là Kế toán Công ty TNHH T12 (mã số thuế 0201609056) 09 số hóa đơn do Công ty T9 phát hành ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 160.480.000 đồng.
    • Bán cho H2, T6 (là người quen biết qua mạng xã hội, không rõ họ tên, địa chỉ) 11 số hóa đơn do Công ty T9, Công ty D1 phát hành cho Công ty TNHH T13 (mã số thuế 0201300356) 06 số hóa đơn; Công ty TNHH T12 (mã số thuế 0200988161) 03 số hóa đơn; Công ty TNHH B1 02 số hóa đơn, tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế ghi trên 11 số hóa đơn là 1.668.104.365 đồng.
  2. Bán cho Phạm Thị M 14 số hóa đơn do Công ty T9 phát hành ghi tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 904.305.000 đồng, giá bán 7%, thu lời bất chính số tiền là 63.301.350 đồng. Phạm Thị M đã bán lại 14 hóa đơn cho 04 doanh nghiệp với giá từ 8-9%, thu lời bất chính số tiền là 11.643.000 đồng, cụ thể:
    • Phạm Thị M bán cho Phạm Thị H (sinh năm 1990, trú tại: số A H, Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) là kế toán của Công ty TNHH T14 (mã số thuế 0201981200) 01 số hóa đơn ghi tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 195.755.000 đồng, với giá 9%, M hưởng lợi 2%.
    • Bán cho Đoàn Thành T5 (sinh năm 1976, trú tại: số A Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng) là Giám đốc Công ty cổ phần T15 (mã số thuế 0201099133) 04 số hóa đơn ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 64.240.000 đồng, với giá 9%, M hưởng lợi 2%.
    • Bán cho Đỗ Thị T6 (sinh năm 1984, trú tại: số B C, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng) là Kế toán Công ty cổ phần V1 (mã số thuế 0200680384) 02 số hóa đơn ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 113.900.000 đồng, với giá 8%, M hưởng lợi 1%.
    • Bán cho Phạm Thị R (sinh năm 1986, trú tại: số D P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) là người quen của Bùi Hương T7 (sinh năm 1991, trú tại: số H T, A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) - kế toán Công ty V2 07 số hóa đơn ghi tên Công ty cổ phần V2 (mã số thuế 0102303691), tổng số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế ghi trên 07 số hóa đơn là 530.410.000 đồng, với giá 8%, M hưởng lợi 1%.
  3. Bán cho Nguyễn Thị M1 (sinh năm 1983, trú tại: Số G đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng) 07 số hóa đơn do Công ty T9 phát hành ghi tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 135.970.000 đồng, giá bán 6,5%, thu lời bất chính số tiền là 8.838.050 đồng. Nguyễn Thị M1 đã bán lại 07 số hóa đơn cho 02 doanh nghiệp với giá 07%, Mơ hưởng lợi 0,5%, thu lời bất chính số tiền là 679.850 đồng, cụ thể:
    • Bán cho Phạm Thị Thu H1 (sinh năm 1994, trú tại: Số B Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng) - Kế toán của Công ty TNHH V3 (mã số thuế 0201624061) 05 số hóa đơn ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 85.690.000 đồng.
    • Bán cho Bùi Thị Minh T8 (sinh năm 1988, trú tại: Số E B, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng) - Kế toán Công ty TNHH T16 (mã số thuế 0202151410) 02 số hóa đơn ghi tổng tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 50.280.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Đào Phú A, Đào Thị Thùy D khai: Đối với các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ đầu vào, Phú A kiểm tra và ký hợp đồng mua bán sử dụng dịch vụ thông qua người đại diện có tên là L1, B và một số cá nhân khác (hiện không nhớ được họ tên, địa chỉ). Các doanh nghiệp này khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ đều xuất hóa đơn GTGT cho Công ty T9Công ty D1 để hạch toán kê khai thuế. Theo kết quả kiểm toán nhà nước khu vực VI, các văn bản trả lời của Cơ quan thuế và kết quả xác minh ngày 04/10/2023 tại Chi cục thuế L4 thể hiện: Công ty T9Công ty D1 đã tiến hành kê khai báo cáo thuế đến hết tháng 12/2022 và 02 Công ty này không nợ thuế.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với các Công ty sử dụng hóa đơn của Công ty T9Công ty D1, kết quả xác định:

Đối với Công ty T9:

  • + Có 13 lượt Công ty mua hoá đơn GTGT khống của Công ty T9, trong đó: 10 Công ty thừa nhận việc mua hóa đơn GTGT không kèm theo hàng hóa dịch vụ thật để hợp thức hóa các chi phí đầu vào của doanh nghiệp; 02 Công ty không thừa nhận việc mua hóa đơn GTGT khống; 01 Công ty chưa triệu tập được để làm việc (Công ty TNHH B1).
  • + Có 146 lượt Công ty thể hiện bên sử dụng hoá đơn GTGT, trong đó: 02 Công ty khai không giao dịch, không sử dụng hóa đơn GTGT; 133 Công ty khai có thuê dịch vụ vận chuyển, sửa chữa và được phát hành hóa đơn theo đúng quy định; 11 Công ty có số lượng hóa đơn dưới 10 số, tiền thuế dưới 100.000.000 đồng, trong đó: 07 Công ty có trụ sở hoạt động ở địa bàn ngoại tỉnh, đã gửi ủy thác điều tra (kết quả: 05 Công ty khai báo có sử dụng dịch vụ và được phát hành hóa đơn; 02 Công ty chưa có kết quả trả lời); 04 Công ty còn lại chưa phối hợp làm việc.

Đối với Công ty D1:

  • + Có 03 lượt Công ty mua hoá đơn GTGT khống của Công ty D1, trong đó: 02 Công ty thừa nhận việc mua hóa đơn GTGT không kèm theo hàng hóa dịch vụ thật để hợp thức hóa các chi phí đầu vào của doanh nghiệp; 01 Công ty chưa triệu tập được để làm việc (Công ty TNHH B1).
  • + Có 68 Công ty thể hiện bên sử dụng hoá đơn GTGT, trong đó: 49 Công ty khai có thuê dịch vụ vận chuyển, sửa chữa và được phát hành hóa đơn theo đúng quy định; 19 Công ty có số lượng hóa đơn dưới 10 số, tiền thuế dưới 100.000.000 đồng, trong đó: 10 Công ty chưa phối hợp làm việc (kể cả Công ty B1; 09 Công ty có trụ sở hoạt động ở địa bàn ngoại tỉnh (kết quả: có 8/9 Công ty khai báo có sử dụng dịch vụ và được phát hành hóa đơn).

Lời khai của các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có liên quan, phù hợp với tài liệu do Cơ quan Thuế, Ngân hàng cung cấp và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Các bị can đã tự nguyện nộp lại 348.000.000 đồng tiền thu lời bất chính, trong đó bị can Đào Phú A nộp 332.000.000 đồng; bị can Lưu Thị Mai A1 nộp 4.000.000 đồng; bị can Phạm Thị M nộp 12.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - Các giấy giới thiệu, séc ký khống do Đào Phú A, Đào Thị Thùy D giao nộp và tự in, trích xuất các hóa đơn, chứng từ có liên quan đến việc bán trái phép hóa đơn được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • - 01 dấu tròn của Công ty T9, 01 dấu tròn của Công ty D1, 01 dấu chức danh mang tên Đào Phú A, 01 dấu chữ ký của Đào Phú A, 01 bộ máy tính bàn (01 cây máy tính nhãn hiệu Cenco, 01 màn hình nhãn hiệu Acer) và số tiền 348.000.000 đồng các bị can giao nộp chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An quản lý.

Tại Cáo trạng số 107/CT-VKS-HA ngày 10/11/2023 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D về tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M về tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, áp dụng các bị cáo được phạt tiền là hình phạt chính.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 203, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Đào Phú A số tiền từ 240.000.000đồng đến 260.000.000đồng, về tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • + Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 203, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Đào Thị Thùy D số tiền từ 200.000.000đồng đến 220.000.000đồng, về tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • + Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Thị Mai A1 số tiền từ 60.000.000đồng đến 70.000.000đồng, về tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • + Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị M số tiền từ 50.000.000đồng đến 60.000.000đồng, về tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Về tiền thu lợi bất chính:
    • + Bị cáo Đào Phú A thu lợi bất chính số tiền 331.360.333 đồng. Bị cáo Phú A đã nộp số tiền 332.000.000 đồng; trừ đi số tiền 331.360.333 đồng bị cáo thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn thừa là 639.667 đồng được trả lại cho bị cáo xong tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • + Bị cáo Phạm Thị M thu lợi bất chính số tiền 11.643.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 12.000.000 đồng; trừ đi số tiền 11.643.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn thừa là 357.000 đồng được trả lại cho bị cáo xong tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • + Bị cáo Lưu Thị Mai A1 thu lợi bất chính số tiền 3.988.014 đồng. Bị cáo Mai A1 đã nộp số tiền 4.000.000 đồng; trừ đi số tiền 3.988.014 bị cáo thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn thừa là 11.986 đồng được trả lại cho bị cáo xong tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Các giấy giới thiệu, séc ký khống do Đào Phú A, Đào Thị Thùy D giao nộp và tự in, trích xuất các hóa đơn, chứng từ có liên quan đến việc bán trái phép hóa đơn được lưu trong hồ sơ vụ án.
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 dấu tròn của Công ty T9, 01 dấu tròn của Công ty D1, 01 dấu chức danh mang tên Đào Phú A, 01 dấu chữ ký của Đào Phú A.
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 bộ máy tính bàn (01 cây máy tính nhãn hiệu Cenco, 01 màn hình nhãn hiệu Acer)
  • (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2023 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
  • - Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Điều tra viên Công an quận H, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M khai nhận hành vi mua bán trái phép hóa đơn của mình như nội dung đã nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các tài liệu xác minh tại cơ quan thuế, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở xác định:

[2.1] Đối với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của bị cáo Đào Phú A: Năm 2007, Đào Phú A thành lập Công ty TNHH T9; năm 2018, Đào Phú A thành lập Công ty TNHH D1 để thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022, Đào Phú A đã chỉ đạo Đào Thị Thùy D bán trái phép 50 số hóa đơn GTGT ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 5.028.289.365 đồng do Công ty T9Công ty D1 phát hành, thu lời bất chính số tiền là 331.360.333 đồng.

[2.2] Đối với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của bị cáo Lưu Thị Mai A1: Lưu Thị Mai A1 đã mua 29 số hóa đơn GTGT ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 3.988.014.365 đồng do Công ty T9Công ty D1 phát hành, bán lại cho các Công ty khác thu lời bất chính số tiền là 3.988.014 đồng

[2.3] Đối với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của bị cáo Phạm Thị M: Phạm Thị M đã mua 14 số hóa đơn GTGT ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 904.305.000 đồng do Công ty T9 phát hành, bán lại cho các Công ty khác thu lời bất chính số tiền là 11.643.000 đồng.

[2.4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước” quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây mất trật tự trị an. Chính vì vậy phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm tương tự xảy ra.

· Về tình tiết định khung hình phạt:

[4] Trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022, Đào Phú A đã chỉ đạo Đào Thị Thùy D bán trái phép 50 số hóa đơn GTGT ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 5.028.289.365 đồng do Công ty T9Công ty D1 phát hành, thu lời bất chính số tiền là 331.360.333 đồng. Hành vi của các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D phạm vào các tình tiết định khung: “hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên” và “thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

[5] Bị cáo Lưu Thị Mai A1 đã mua 29 số hóa đơn GTGT ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 3.988.014.365 đồng do Công ty T9Công ty D1 phát hành, bán lại cho các Công ty khác thu lời bất chính số tiền là 3.988.014 đồng. Bị cáo Phạm Thị M đã mua 14 số hóa đơn GTGT ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 904.305.000 đồng do Công ty T9 phát hành, bán lại cho các Công ty khác thu lời bất chính số tiền là 11.643.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị Minh p vào tình tiết định khung: “Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

- Về vai trò của các bị cáo:

[6] Bị cáo Đào Phú A là người chủ mưu, chỉ đạo điều hành và trực tiếp thực hiện hoạt động mua bán hóa đơn ở Công ty T9Công ty D1 phát hành; chỉ đạo Đào Thị Thùy D cùng tham gia thực hiện việc mua bán hoá đơn GTGT với một lượng lớn hoá đơn GTGT, thu lời bất chính nhiều nhất nên cần đánh giá Phú A giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Bị cáo Đào Thị Thùy D giữ vai trò giúp sức cho bị cáo Phú A thực hiện việc mua bán hoá đơn GTGT tại 02 Công ty T9Công ty D1. Vì vậy đánh giá vai trò bị cáo D thấp hơn bị cáo Phú A và cao hơn bị cáo Mai A1, bị cáo M.

[7] Trong vụ án này bị cáo Mai A1 đã mua 29 hóa đơn giá trị gia tăng là cao hơn số hóa đơn giá trị gia tăng của bị cáo M đã mua. Vì vậy đánh giá vai trò và mức độ phạm tội của bị cáo Mai A1 sẽ cao hơn bị cáo M.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về nhân thân:

[8] Các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M đều có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.

+ Về tình tiết tăng nặng:

[9] Các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Lưu Thị Mai A1, Phạm Thị M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[10] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo M, Mai A1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phú A, M, Mai A1 đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[11] Tại phiên tòa, các bị cáo đều yêu cầu được áp dụng phạt tiền là hình phạt chính. Xét tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các bị cáo có điều kiện, khả năng thực hiện hình phạt tiền nên cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, đảm bảo thu hồi tài sản cho Nhà nước. Mức phạt tiền sẽ căn cứ vào vai trò của từng bị cáo để quyết định.

- Về tiền thu lợi bất chính: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính các bị cáo đã nộp, cụ thể:

[12] Bị cáo Đào Phú A thu lợi bất chính số tiền 331.360.333 đồng. Bị cáo Phú A đã nộp số tiền 332.000.000 đồng; trừ đi số tiền 331.360.333 đồng bị cáo thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn thừa là 639.667 đồng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[13] Bị cáo Phạm Thị M thu lợi bất chính số tiền 11.643.000 đồng. Bị cáo Phú A đã nộp số tiền 12.000.000 đồng; trừ đi số tiền 11.643.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn thừa là 357.000 đồng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[14] Bị cáo Lưu Thị Mai A1 thu lợi bất chính số tiền 3.988.014 đồng. Bị cáo Mai A1 đã nộp số tiền 4.000.000 đồng; trừ đi số tiền 3.988.014 bị cáo thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn thừa là 11.986 đồng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[15] Các giấy giới thiệu, séc ký khống do Đào Phú A, Đào Thị Thùy D giao nộp và tự in, trích xuất các hóa đơn, chứng từ có liên quan đến việc bán trái phép hóa đơn được lưu trong hồ sơ vụ án.

[16] Tịch thu tiêu huỷ: 01 dấu tròn của Công ty T9, 01 dấu tròn của Công ty D1, 01 dấu chức danh mang tên Đào Phú A, 01 dấu chữ ký của Đào Phú A.

[17] Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 bộ máy tính bàn (01 cây máy tính nhãn hiệu Cenco, 01 màn hình nhãn hiệu Acer)

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2023 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).

[18] Đối với Nguyễn Thị M1, Đặng Thị T4, Phạm Thị R, Phạm Văn M2, Lương Thị M3, Đoàn Thành T5, Đỗ Thị T6, Phạm Thị H, Bùi Hương T7 đã có hành vi mua hóa đơn GTGT ghi khống tiền hành hóa dịch vụ. Tuy nhiên, số lượng hóa đơn đều dưới 10 số, số tiền thu lời bất chính dưới 30.000.000 đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H có văn bản đề nghị Cơ quan thuế xử lý theo quy định pháp luật về thuế.

[19] Đối với các đối tượng tên N, H2, T6... hiện không xác định được lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi xác định được sẽ thông báo cho Cơ quan thuế xử lý theo quy định của pháp luật về thuế.

[20] Đối với Đặng Thị Mai A2, Nguyễn Thị T không biết việc Đào Phú A, Đào Thị Thùy D bán trái phép hóa đơn, làm việc theo chỉ đạo của Phú A, hành vi không cấu thành tội phạm.

[21] Đối với các doanh nghiệp đã điều tra, xác minh, đại diện các doanh nghiệp khai báo đã sử dụng dịch vụ sửa chữa, vận chuyển, được xuất hóa đơn theo đúng khối lượng, giá trị thực tế, đã phối hợp, cung cấp các chứng từ, tài liệu có liên quan để chứng minh giao dịch là thật và phù hợp với nội dung khai báo của bị can Đào Phú A, Đào Thị Thùy D. Do vậy, hành vi sử dụng hóa đơn không cấu thành tội phạm.

[22] Đối với các doanh nghiệp thừa nhận mua trái phép hóa đơn thuế GTGT. Tuy nhiên, lượng hóa đơn dưới 10 số, tiền thuế dưới 100.000.000 đồng, hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, quy định tại Điều 203 hoặc tội Trốn thuế theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H có văn bản gửi Cơ quan quản lý thuế đề nghị xử lý theo quy định.

[23] Đối với các Công ty khác, bị can Phú A, D không thừa nhận bán hoá đơn GTGT, đại diện doanh nghiệp không thừa nhận mua hoá đơn hoặc không phối hợp làm việc, nhưng lượng hóa đơn dưới 10 số, tiền thuế dưới 100.000.000 đồng do Công ty T9Công ty D1 đã phát hành. Do vậy, chưa đủ căn cứ xác định việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, không cấu thành tội phạm theo Điều 200 hoặc Điều 203 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H sẽ chuyển hồ sơ đến Cơ quan thuế quản lý để kiểm tra, xử lý theo quy định.

- Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

[24] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 203, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Đào Phú A số tiền 250.000.000(Hai trăm lăm mươi triệu) đồng, về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”.

Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 203, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Đào Thị Thùy D số tiền 200.000.000(Hai trăm triệu) đồng, về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”.

Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử:

- Xử phạt: Lưu Thị Mai A1 số tiền 60.000.000(Sáu mươi triệu) đồng, về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”.

- Xử phạt: Phạm Thị M số tiền 50.000.000( Năm mươi triệu) đồng, về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”.

* Về xử lý số tiền thu lợi bất chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính:

  • - Đào Phú A là 331.360.333 đồng (Đào Phú A thu lợi bất chính số tiền 331.360.333 đồng. Đào Phú A đã nộp số tiền 332.000.000 đồng, số tiền còn thừa là 639.667 đồng);
  • - Lưu Thị Mai A1 là 3.988.014 đồng (Lưu Thị Mai A1 đã nộp số tiền 4.000.000 đồng, số tiền còn thừa là 11.986 đồng);
  • - Phạm Thị M là 11.643.000 đồng (Phạm Thị M đã nộp số tiền 12.000.000 đồng, số tiền còn thừa là 357.000 đồng).

Trả lại cho Đào Phú A số tiền 639.667 đồng; Lưu Thị Mai A1 11.986 đồng và Phạm Thị M là 357.000 đồng, là tiền của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội. Tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo việc thi hành án.

(Theo Biên lai thu tiền số 0002898 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 dấu tròn của Công ty T9, 01 dấu tròn của Công ty D1, 01 dấu chức danh mang tên Đào Phú A, 01 dấu chữ ký của Đào Phú A.
  • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 bộ máy tính bàn (01 cây máy tính nhãn hiệu Cenco, 01 màn hình nhãn hiệu Acer)

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2023 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đào Phú A, Đào Thị Thùy D, Phạm Thị M, Lưu Thị Mai A1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười năm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - Công an quận Hải An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • Quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng;
  • - PV06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự Công an quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (hình sự)

  • Số bản án: 106/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Phú Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger