Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/9/2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Ngọc Phương.
  2. Ông Lò Văn Quốc.

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền -Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 231/2024/TLST- HNGĐ ngày 30/7/2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 122/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 125/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị Thanh T; Sinh năm: 1997; Địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: Anh Hà Ngọc L; Sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Văng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 29/7/2024, bản tự khai, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa. Nguyên đơn chị Lường Thị Thanh T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Hà Ngọc L kết hôn với nhau từ ngày 14/7/2020 tại UBND thị trấn T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối. Sau khi kết hôn chị và anh L chung sống hoà thuận hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do khác biệt quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn trầm trọng, không tìm được tiếng nói chung, cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Chị T nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc nên đã viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Ngọc L.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 01 con chung: Cháu Hà Diệu A, sinh ngày 29/10/2020. Chị T đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hà Diệu A. Không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Hà Ngọc L trình bày:

Về hôn nhân: Quá trình kết hôn giữa anh và chị Lường Thị Thanh T như lời khai của chị T là đúng. Quá trình chung sống do tính tình không hòa hợp, khác biệt quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh xác định tình cảm vẫn còn muốn hàn gắn với chị T, mong muốn đoàn tụ vì còn yêu thương vợ con nên không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 01 con chung đúng như chị T khai. Anh nhất trí với đề nghị của chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hà Diệu A. Anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản riêng: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải chị T, anh L không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng. Nguyên đơn chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến trước khi ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thụ lý đúng thẩm quyền tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ đúng quy định. Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, gửi kịp thời các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 97, Điều 195, Điều 196, Điều 198, Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Lường Thị Thanh T, anh Hà Ngọc L đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án:

Đề nghị:

  • Về hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị Thanh T được ly hôn với anh Hà Ngọc L.
  • Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Hà Diệu A, sinh ngày 29/10/2020 cho chị Lường Thị Thanh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Hà Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về án phí: Chị Lường Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

* Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu giải quyết việc ly hôn của nguyên đơn chị Lường Thị Thanh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, bị đơn có nơi cư trú tại huyện Thuận Châu nên Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Chị Lường Thị Thanh T, anh Hà Ngọc L đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

[2]. Về hôn nhân: Chị Lường Thị Thanh T và anh Hà Ngọc L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn hai anh chị đều thừa nhận là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh L và giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh L, anh L không nhất trí ly hôn là không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị T ly hôn với anh L.

[3]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 01 con chung: Cháu Hà Diệu A, sinh ngày 29/10/2020. Chị T và anh L đều nhất trí giao cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hà Diệu A. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, xem xét chị T có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu. Cháu Hà Diệu A đang còn rất nhỏ hiện đang do chị T nuôi dưỡng, cháu cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của chị T, nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em và sự tự nguyện thỏa thuận của anh chị. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu như ăn mặc, học hành, những điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý. Giao cháu Hà Diệu A cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T, anh L nhất trí thỏa thuận không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận, hợp tình, hợp lý, sau khi ly hôn anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó căn cứ Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4].Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về tài sản riêng: Không có.

[6]. Về nợ chung: Không có.

[7]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lường Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

[8]. Về quyền kháng cáo : Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị Thanh T được ly hôn với anh Hà Ngọc L.
  2. Về con chung: Xử giao cháu Hà Diệu A, sinh ngày 29/10/2020 cho chị Lường Thị Thanh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hà Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về án phí: Chị Lường Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu theo biên lai thu số: 0001837, ngày 30/7/2024.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị Thanh T, anh Hà Ngọc L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Thuận Châu(02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Châu;
  • - UBND thị trấn T, huyện Thuận Châu;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu:Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Tiến Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Thị Thanh T - Hà Ngọc L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger