|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày 25/4/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Quân và ông Nguyễn Hữu Long.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Diệp Thị Hương, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2024/TLST-HS ngày 05/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 10/4/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quang L
tên gọi khác: không; sinh ngày 07/4/2000, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: tổ I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, đã chết và bà Phạm Thị O; có vợ là Nguyễn Thị Thu G, có 01 con.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1992, nơi cư trú: tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, có đơn đề nghị xử vắng mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Đỗ Ngọc T, sinh năm 2001, nơi cư trú: xóm G, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, có mặt;
- Người làm chứng: Anh Tằng Văn L1, sinh năm 2000, nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp, không có tiền để tiêu xài cá nhân, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/11/2023, Nguyễn Quang L đến nhà của chị Nguyễn Thị Hồng H1 (là giáo viên dạy cấp 2 của L), L nói dối chị H1 cho mượn xe mô tô để đi đưa đồ cho vợ, mục đích để chiếm đoạt chiếc xe của chị H1. Do tin tưởng nên chị H1 đã giao xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR, biển kiểm soát 20B1 – 481.89 của chị cho L sử dụng. Sau khi chiếm đoạt được xe của chị H1, L điều khiển xe đến khu vực phường T, thành phố T gặp anh Đỗ Ngọc T để bán xe. Anh T không biết nguồn gốc chiếc xe do L chiếm đoạt của chị H1 nên đã thỏa thuận mua với giá 15.000.000 đồng, nhưng do xe chưa có giấy tờ nên T chỉ chuyển cho L 3.000.000 đồng và thỏa thuận khi nào có đủ giấy tờ xe thì sẽ chuyển số tiền còn lại. Số tiền bán xe, L sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, anh T liên hệ với số điện thoại được ghi trong tờ giấy để trong cốp xe thì được biết đây là xe của chị H1. Phát hiện xe của mình bị chiếm đoạt mang đi bán nên chị H1 đã đến Công an thành phố T trình báo, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 316/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR, màu sơn nâu, BKS 20B1 – 481.89 là 4.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR, màu sơn nâu, BKS 20B1 - 481.89, hiện đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 quản lý và sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô đã được thu hồi trả lại cho chị H1; bị cáo đã trả lại số tiền 3.000.000 đồng cho anh T. Chị H1, anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, không đề nghị gì thêm.
Bản cáo trạng số 97/CT-VKSTPTN ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Quang L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong, không xem xét giải quyết.
- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 21/11/2023 tại tổ A, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Quang L đã đưa ra thủ đoạn gian dối và chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hồng H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR, màu sơn nâu, BKS 20B1 - 481.89, đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng. Hiện chiếc xe đã được thu hồi trả lại cho chị H1 quản lý sử dụng.
[3]. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
[5]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là đủ. Điều này thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội, cũng đủ khả năng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản gì riêng có giá trị nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: chiếc xe mô tô đã được thu hồi trả lại cho chị H1 quản lý sử dụng; bị cáo đã trả lại số tiền 3.000.000 đồng cho anh T. Chị H1, anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, không đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Về vấn đề khác: Đối với Đỗ Ngọc T là người mua chiếc xe mô tô BKS 20B1 – 481.89 của bị cáo, xác định khi mua xe T không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý đối với T là phù hợp quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Linh
