|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/DS-ST Ngày: 24/6/2024. V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tú Trinh.
2. Bà Huỳnh Khiết Như.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Không.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-DS, ngày 16 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2024/QÐST-DS ngày 05/6/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Khánh L, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp G, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
* Bị đơn: Ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T; Cùng địa chỉ: Ấp G, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2023, các lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Bà L là chủ hụi, ông Đ và bà T là hụi viên, có tham gia chơi hụi do bà làm chủ hụi, cụ thể như sau:
Dây hụi 1: Hụi tháng 1.000.000 đồng mở ngày 23/03/2020 âm lịch có 26 phần ông Đ bà T tham gia 03 phần tên trong giấy hụi là " Điền" ông Đ bà T đã đóng được 11 lần thì hốt hết 03 phần. Nhưng sau khi hốt hụi ông Đ và bà T không đóng hụi chết cho bà thêm lần nào nữa. Hụi này đã mãn nên bà phải tiền đóng hụi chết thay cho ông Đ, bà T. Nên dây hụi này ông Đ và bà T còn nợ bà tiền hụi chết là 15 lần x 03 phần x 1.000.000 đồng = 45.000.000 đồng.
Dây hụi 2: Hụi tháng 500.000 đồng mở ngày 17/07/2020 âm lịch có 25 phần ông Đ, bà T tham gia 02 phần tên trong giấy hụi là " Điền", ông Đ bà T đã đóng được 14 lần thì hốt hết 02 phần. Nhưng sau khi hốt hụi ông Đ và bà T không đóng hụi chết cho bà thêm lần nào nữa. Hụi này đã mãn nên bà phải tiền đóng hụi chết thay cho ông Đ, bà T. Nên dây hụi này ông Đ và bà T còn nợ bà tiền hụi chết là 11 lần x 02 phần x 500.000 đồng = 11.000.000 đồng.
Dây hụi 3: Hụi tháng 200.000 đồng mở ngày 20/07/2019 âm lịch có 29 phần ông Đ bà T tham gia 04 phần tên trong dây hụi là " Điền", ông Đ bà T đã đóng được 28 lần thì hốt hết 02 phần. Nhưng sau khi hốt hụi ông Đ và bà T không đóng hụi chết cho bà thêm lần nào nữa, nên bà đã đóng tiền hụi chết thay họ. Nên dây hụi này ông Đ và bà T còn nợ bà tiền hụi chết là 01 lần x 04 phần x 200.000 đồng = 800.000 đồng.
Dây hụi 4: Hụi tháng 200.000 đồng mở ngày 10/12/2019 âm lịch có 31 phần ông Đ, bà T tham gia 04 phần tên trong giấy hụi là " Điền", ông Đ bà T đã đóng được 27 lần thì hốt hết 04 phần. Nhưng sau khi hốt hụi ông Đ và bà T không đóng hụi chết cho bà thêm lần nào nữa. Nên dây hụi này ông Đ và bà T còn nợ tiền hụi chết của bà là 4 lần x 04 phần x 200.000 đồng = 3.200.000 đồng.
Tổng cộng số tiền hụi ông Đ và bà T còn nợ bà L là: 45.000.000 đồng + 11.000.000 đồng + 800.000 đồng + 3.200.000 đồng = 60.000.000 đồng
Do đó, bà Đặng Thị Khánh L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết buộc ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T cùng có trách nhiệm trả lại cho bà số tiền hụi còn nợ là 60.000.000 đồng. Không yêu cầu tính lãi suất.
* Đối với bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến nay, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ và bà T, nhưng các bị đơn không tham gia tố tụng, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và yêu cầu của các bị đơn.
Tại phiên tòa, bà L có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ và bà T cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 54.000.000 đồng, vì trước đây sau khi thỏa thuận tiền hụi với vợ chồng bà T, ông Đ là 60.000.000 đồng thì sau đó vợ chồng bà T, ông Đ có trả cho bà được hai lần, mỗi lần trả với số tiền là 3.000.000 đồng x 02 lần = 6.000.000 đồng, hiện còn nợ lại là 54.000.000 đồng chưa trả. Đồng thời bà L có ý kiến là do bà chỉ biết vợ ông Đ tên T, không biết cụ thể họ tên bà T nên có ghi nhầm là Nguyễn Thị T1, nay qua xác nhận của chính quyền địa phương thì mới biết là ghi chưa chính xác, bà xác định lại kiện ông Võ Thanh Đ cùng vợ ông Đ tên là Phan Thị Diễm T mới đúng; Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đến thời điểm mở phiên tòa xét xử hôm nay, bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
[2] Tại phiên tòa:
[2.1] Bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Nguyên đơn Đặng Thị Khánh L có đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các bị đơn.
[2.2] Nguyên đơn là bà Đặng Thị Khánh L có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2023 bà L yêu cầu các bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 60.000.000 đồng, không tính lãi, là chưa trừ tiền hụi các bị đơn đã trả cho bà 02 lần là 6.000.000 đồng, hiện chỉ còn nợ 54.000.000 đồng. Nay xin thay đổi là yêu cầu ông Đ và bà T cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 54.000.000 đồng, không tính lãi. Xét việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là tự nguyện, nội dung thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện này không vượt quá phạm vi khởi kiện và đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Đặng Thị Khánh L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T cùng có nghĩa vụ trả cho bà tổng số tiền hụi còn nợ là 54.000.000 đồng.
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:
Nguyên đơn là bà Đặng Thị Khánh L cùng bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T có thỏa thuận tham gia chơi hụi với nhau (04 dây hụi tháng), trong đó vợ chồng ông Đ và bà T là hụi viên, còn bà L là chủ hụi. Bà L đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người chủ hụi là gom tiền, giao tiền hụi hốt cho các bị đơn. Tuy nhiên các bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ của hụi viên là không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tiền hụi chết sau khi đã hốt hụi cho chủ hụi là bà L.
[3.2] Theo Biên bản hòa giải ngày 24/11/2024 tại Tổ hòa giải ấp G, xã B thì bị đơn T có tham gia và thừa nhận có nợ nguyên đơn L số tiền hụi 60.000.000 đồng, hiện do gia đình đang thất nghiệp nên hứa đến ngày 28/01/2023 đóng 6.000.000 đồng, từ đó trở về sau vào ngày 28 hàng tháng đóng 3.000.000 đồng gửi Tổ hòa giải đến khi trả đủ 60.000.000 đồng. Do các bên thống nhất thỏa thuận nên hòa giải thành. Tuy nhiên, sau khi thỏa thuận thì phía bị đơn chỉ trả được 6.000.000 đồng cho nguyên đơn, rồi ngưng không trả thêm số tiền nào cho đến nay. Do đó nguyên đơn mới khởi kiện đến tòa án.
[3.3] Về phía bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho các bị đơn nhưng các bị đơn cố tình vắng mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cư trú mới cho nguyên đơn là bà L biết, nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với bà L, nên được coi là bà T và ông Đ đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình trong vụ án này. Đồng thời, các bị đơn cùng không gửi văn bản trình bày ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.4] Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định: “………… Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó ...” và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra những chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.
[4] Từ những tình tiết nêu trên có căn cứ xác định: các bị đơn là vợ chồng ông Đ, bà T là hụi viên cùng tham gia các dây hụi do nguyên đơn là bà L làm chủ hụi thực tế có xảy ra. Do bà T, ông Đ đã có lỗi trong việc vi phạm nghĩa vụ không góp tiền hụi chết đầy đủ cho chủ hụi và chủ hụi phải đóng thay các bị đơn để duy trì dây hụi, chính sự vi phạm nghĩa vụ của các bị đơn đã trực tiếp gây thiệt thòi đến quyền lợi của nguyên đơn, nên các bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền hụi đã đóng thay là 54.000.000 đồng theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019.
Khi các bên đương sự giao kết hợp đồng góp hụi với nhau đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện và nội dung, mục đích của hợp đồng góp hụi này không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng này là hợp pháp theo quy định tại Điều 117, Điều 288 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là bà Đặng Thị Khánh L số tiền còn nợ là 55.000.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên không phải chịu án phí sơ thẩm; Bị đơn không cung cấp được các giấy tờ chứng minh thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, cụ thể: 54.000.000 đồng x 5% = 2.700.000 đồng.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2, khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; khoản 1 Điều 244; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 117, Điều 288 và Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 24 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Căn cứ Điều 12 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
TUYÊN XỬ:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Đặng Thị Khánh L. Buộc bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn là bà Đặng Thị Khánh L tổng số tiền hụi còn nợ là 54.000.000 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị đơn còn phải trả lãi cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn là ông Võ Thanh Đ và bà Phan Thị Diễm T cùng liên đới chịu 2.700.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Đặng Thị Khánh L tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001138 ngày 26/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn (có mặt) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tô Thị Bích Duyên |
|
- Lưu hồ sơ vụ án |
Bản án số 106/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 106/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà ĐTKL và VTĐ+T
