TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-4-2024
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Thành
- Ông Nguyễn Ánh Sáng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 374/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1996
Trú tại: Khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Nhật N, sinh năm 1993
Trú tại: Khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Nhật N tự tìm hiểu yêu thương nhau và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 21/9/2015. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi với nhau. Ngoài ra, anh N không có trách nhiệm với gia đình, ăn chơi cờ bạc, chị và gia đình có khuyên can nhưng anh N vẫn chứng nào tật nấy. Vợ chồng đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống từ đầu năm 2018 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Nhật N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Hiền L, giới tính: Nữ, sinh ngày 24/3/2016. Từ khi sinh ra đến nay con chung sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc con chung đến trưởng thành, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Nhật N vắng mặt không có lý do:
Về các thủ tục giải quyết ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc về việc chị D xin ly hôn, nhưng anh Nguyễn Nhật N đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản hoặc quan điểm gửi Tòa án, vì vậy Tòa án không biết quan điểm của anh N về những nội dung ông N yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại Biên bản xác minh ngày 05/02/2024, Công an thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định cung cấp: Anh Nguyễn Nhật N, sinh năm 1993 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ E, khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định theo số hộ khẩu của bà Nguyễn Thị Xuân L1.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn anh Nguyễn Nhật N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh N. Về nội dung: Áp dụng Điều 56 và 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc D, cho chị Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với anh Nguyễn Nhật N. Về con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Ngọc Hiền L, sinh ngày 24/3/2016 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng; anh N không phải cấp dưỡng nuôi con, vì chị D không yêu cầu; Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét; Về án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của bị đơn anh Nguyễn Nhật N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại Điều 227, 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc D và anh Nguyễn Nhật N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 21/9/2015 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống được 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh N không quan tâm lo lắng gì cho vợ, phần ai nấy sống, vợ chồng ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh N không đến Tòa, vẫn bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình.
Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày 03/3/2024 của UBND thị trấn P, nguyên nhân tình trạng hôn nhân, con chung của chị D, anh N địa phương không nắm rõ. Việc anh N không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ anh N không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Tình trạng hôn nhân giữa chị D, anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D, cho chị D được ly hôn anh N.
[3] Về con chung: Chị D và anh N có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Hiền L, giới tính: Nữ, sinh ngày 24/3/2016. Con chung khi nay ở với chị D, anh N không quan tâm đến con, không có trách nhiệm gì với con. Vì vậy chị D nhận trách nhiệm tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Hiền L và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị D nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc D không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Ngọc D phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003464 ngày 26/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
[6] Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với anh Nguyễn Nhật N.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Hiền L, (giới tính: Nữ), sinh ngày 24/3/2016 cho chị Nguyễn Thị Ngọc D được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Ngọc D không yêu cầu nên miễn xét.
Anh Nguyễn Nhật N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc D phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003464 ngày 26/12/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn. Chị D đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ban Lê Thị Minh Trí |
Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Diệp xin ly hôn anh Nam
