|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 106/2024/DS-ST Ngày 23-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Thắng
- Ông Huỳnh Văn Tới
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Võ Hồng Luyến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 835/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB).
Địa chỉ: Số A, L, phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn P - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Thanh T – Chuyên viên xử lý nợ - Công ty M tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền số 1361 ngày 03/10/2023 (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Cos T1, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Bà Lý Thị Ngọc H, sinh năm: 1992 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lý S (vắng mặt).
Địa chỉ: khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 03/10/2023, quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn ông Đinh Thanh T trình bày: Ngày 20/4/2020, bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 có ký hợp đồng tín dụng số 46387.20.751.6675401.TD cùng khế ước nhận nợ số LD2011273330 với Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) để vay số tiền 500.000.000 đồng, Mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn vay đến ngày 21/4/2027; Lãi suất vay 11.5%/năm;
Ngoài ra, ngày 18/02/2021, bà Lý Thị Ngọc H có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng quốc tế, số thẻ 7510120004003, hạn mức mở thẻ 50.000.000 đồng; ngày 11/6/2021, bà Lý Thị Ngọc H có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng quốc tế, số thẻ 7510120004003, hạn mức mở thẻ 200.000.000 đồng; ngày 01/3/2021, ông Phạm Cos T1 có đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng gói sản phẩm gia đình tôi yêu, số thẻ 4448617098601, hạn mức mở thẻ 50.000.000 đồng; ngày 28/10/2021, ông Phạm Cos T1 có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng quốc tế, số thẻ 4448617098601, hạn mức mở thẻ 200.000.000 đồng với Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB).
Để bảo đảm cho khoản vay theo tín dụng số 46387.20.751.6675401.TD, bà H và ông Phạm Cos Tl đã ký hợp đồng thế chấp bất động sản số 46388.20.751.6675401.BD ngày 20/4/2020 là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CU 256437, số vào sổ cấp CS02945 do Sở T2 cấp ngày 08/4/2020, thửa đất số 09, tờ bản đồ số 46, diện tích 93,7m²; đất tọa lạc tại khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau đứng bà Lý Thị Ngọc H đã được công chứng ngày 20/4/2020 tại Phòng C tỉnh Cà Mau và đã được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
Trong quá trình vay vốn, bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng. Từ khi phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 thực hiện nghĩa vụ cam kết trả nợ vay cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký nhưng bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 không thực hiện.
Nay ngân hàng M1 yêu cầu bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng M1 Tính đến hết ngày 03/4/2024 bà H và ông Phạm Cos T1 nợ tổng cộng 1.254.260.410 đồng. Trong đó nợ gốc 380.960.000 đồng, nợ lãi (Lãi trong hạn 678.871 đồng, lãi quá hạn 124.206.347 đồng, phí trả nợ trước hạn 2.202.560 đồng) và nợ thẻ tín dụng: 735.663.316 đồng.
Trường hợp bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 không trả nợ cho M1 thì yêu cầu bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 tự nguyện phát mãi tài sản để thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng. Trường hợp không thực hiện thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản để thu hồi nợ.
* Đối với bị đơn bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý S đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hoà giải và xét xử nhiều lần thông qua thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng bà H và ông Phạm Cos T1, ông Lý S vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn và người liên quan đúng quy định; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Phát biểu về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 166, 298, 299, 318, 322, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng M1 tổng số tiền tính đến ngày 03/4/2024 là 1.254.260.410 đồng và phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ gốc. Tiếp tục duy trì phần đất là tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về thẩm quyền: Bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 có nơi cư trú tại khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp là hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1, ông Lý S vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
- - Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng M1 yêu cầu bị đơn bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 trả tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng với bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Bị đơn là cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh mục đích vay để tiêu dùng. Do đó, tranh chấp được xác định là tranh chấp về hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;
[2] Về nội dung tranh chấp: Ngày 20/4/2020, bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 có ký hợp đồng tín dụng số 46387.20.751.6675401.TD cùng khế ước nhận nợ số LD2011273330 với Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) để vay số tiền 500.000.000 đồng, Mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn vay đến ngày 21/4/2027; Lãi suất vay 11.5%/năm;
Ngoài ra, ngày 18/02/2021, bà Lý Thị Ngọc H có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng quốc tế, số thẻ 7510120004003, hạn mức mở thẻ 50.000.000 đồng; ngày 11/6/2021, bà Lý Thị Ngọc H có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng quốc tế, số thẻ 7510120004003, hạn mức mở thẻ 200.000.000 đồng; ngày 01/3/2021, ông Phạm Cos T1 có đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng gói sản phẩm gia đình tôi yêu, số thẻ 4448617098601, hạn mức mở thẻ 50.000.000 đồng; ngày 28/10/2021, ông Phạm Cos T1 có đăng ký phát hành kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng quốc tế, số thẻ 4448617098601, hạn mức mở thẻ 200.000.000 đồng với Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB).
Đến thời hạn trả nợ gốc, trả lãi nhưng bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 không trả khoản nợ gốc và nợ lãi theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là vi phạm Điều 6, Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 46387.20.751.6675401.TD ngày 20/4/2020. Tính đến ngày 03/4/2024, tổng dư nợ của bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 tổng cộng 1.254.260.410 đồng. Trong đó nợ gốc 380.960.000 đồng, nợ lãi (Lãi trong hạn 678.871 đồng, lãi quá hạn 124.206.347 đồng, phí trả nợ trước hạn 2.202.560 đồng) và nợ thẻ tín dụng: 735.663.316 đồng và lãi phát sinh theo lãi suất đã ký tại hợp đồng tín dụng. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 trả số tiền nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên theo hợp đồng tín dụng và có căn cứ theo khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp: Hội đồng xét xử thấy rằng, Hợp đồng thế chấp bất động sản số 46388.20.751.6675401.BD ngày 20/4/2020 là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CU 256437, số vào sổ cấp CS02945 do Sở T2 cấp ngày 08/4/2020, thửa đất số 09, tờ bản đồ số 46, diện tích 93,7m²; đất tọa lạc tại khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau đứng bà Lý Thị Ngọc H đã được công chứng ngày 20/4/2020 tại Phòng C tỉnh Cà Mau và đã được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
Xét thấy hợp đồng thế chấp được lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật, đã được công chứng ngày 20/4/2020 tại Phòng C tỉnh Cà Mau và đã được đăng giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, các đương sự không có tranh chấp ý kiến gì về việc thế chấp, về hợp đồng thế chấp đã ký. Do đó, việc nguyên đơn đề nghị phát mại tại sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp cũng như phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Đương sự phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Do yêu cầu của ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có tạm nộp số tiền chi phí thẩm định tại chỗ 400.000 đồng, đã chi trả xong, nguyên đơn yêu cầu được nhận lại. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng số tiền 400.000 đồng.
[5] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đã dự nộp được nhận lại. Bị đơn bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, Điều 157, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 298, 299, 317, 318; 319, 322, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án;
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) - Buộc bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) số tiền 1.254.260.410 đồng (một tỷ hai trăm năm mươi bốn triệu hai trăm sáu mươi nghìn bốn trăm mười đồng). Trong đó nợ gốc 380.960.000 đồng, nợ lãi (lãi trong hạn 678.871 đồng, lãi quá hạn 124.206.347 đồng, phí trả nợ trước hạn 2.202.560 đồng) và nợ thẻ tín dụng: 735.663.316 đồng theo hợp đồng tín dụng số 46387.20.751.6675401.TD cùng khế ước nhận nợ số LD2011273330 ngày 20/4/2020; các hợp đồng mở thẻ tín dụng số thẻ 7510120004003 ngày 18/02/2021; số thẻ 7510120004003 ngày 11/6/2021; số thẻ 4448617098601 ngày 01/3/2021; số thẻ 4448617098601 ngày 28/10/2021.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 03/4/2024, Khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp bất động sản số 46388.20.751.6675401.BD ngày 20/4/2020. Trường hợp bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 không trả hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 256437, số vào sổ cấp CS02945 do Sở T2 cấp ngày 08/4/2020, thửa đất số 09, tờ bản đồ số 46, diện tích 93,7m²; đất tọa lạc tại khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau đứng bà Lý Thị Ngọc H để thu hồi nợ.
-
Về chi phí tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Q không phải chịu. Bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 phải chịu số tiền 400.000 đồng. Buộc bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 trả lại Ngân hàng số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày Ngân hàng thương mại cổ phần Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 không thi hành xong khoản tiền trên, bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
-
Về án phí: Bà Lý Thị Ngọc H và ông Phạm Cos T1 phải chịu án phí sơ thẩm, số tiền tròn số 49.627.800 đồng, (Bốn mươi chín triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn tám trăm đồng); Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền 22.931.000 đồng theo biên lai thu số 0004834 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đoan |
Bản án số 106/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 106/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
