Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày: 22-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Tuyết
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai Vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Tân Hữu N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07 tháng 8 năm 1990 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông: Tân Kiến V, sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1968; có 01 chị ruột tên Tân Thúc P, sinh năm 1987; chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 22/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 362/QĐ-TA, ngày 03/5/2022 bị cáo chấp hành xong quyết định; nhân thân: Không có; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Hoàng M, sinh năm 1994, nơi ở hiện tại: 7 B, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 19/02/2024, Tổ công tác 363 - Công an Q đang tuần tra đến trước nhà số C đường T, Phường H, Quận E, phát hiện Tân Hữu N điều khiển xe mô tô biển số 59L1-201.09 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ bên trong túi quần sau bên phải của N đang mặc có 01 bóp da màu đen bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, N khai nhận là ma túy mua để sử dụng. Do đó, Tổ công tác đưa N cùng vật chứng, phương tiện về trụ sở Công an P1, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo Tân Hữu N khai nhận bản thân Nghĩa là người nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 18/02/2024, N một mình điều khiển xe mô tô biển số 59L1-201.09 đến khu vực đường N xã B, huyện B tìm gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) để mua 350.000 đồng và nhận được 01 gói nylon chứa tinh thể không màu sau đó điều khiển xe về nhà. Ngày 19/02/2024, N đi sửa chữa điện lạnh trên địa bàn Quận E, khi đi N đem theo gói ma túy và cất giữ vào trong bóp da và để vào trong túi quần sau bên phải để sử dụng. Khi đang lưu thông đến trước nhà số C đường T, Phường H, Quận E thì bị Tổ tuần tra 363 - Công an Q dừng xe và bắt giữ. Đối với chiếc xe máy biển số 59L1-201.09 có số máy: JC43E1793693, số khung: RLHJC4319BYY222340 mà N điều khiển có nguồn gốc là của chủ cửa hàng điện lạnh nơi làm việc cho mượn để sử dụng.

Ông Lương Hoàng M trình bày: Chiếc xe máy biển số 59L1-201.09 có số máy: JC43E1793693, số khung: RLHJC4319BYY222340 là do ông đứng tên chủ sở hữu. Chiếc xe nêu trên do ông mua khoảng năm 2011, đến khoảng năm 2020 ông bán lại bằng giấy tay cho một người thanh niên không nhớ rõ lai lịch, đã giao toàn bộ giấy tờ xe cho người mua. Đối với chiếc xe nêu trên ông không có yêu cầu vấn đề dân sự gì.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu; 01 (một) bóp da màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEI 863880046717774; 01 (một) xe mô tô biển số 59L1-201.09 có số máy: JC43E1793693, số khung: RLHJC4319BY222340.

Tại bản Kết luận giám định ma tuý số 2639/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể không màu cần giám định có khối lượng 0,2659 gam (không phẩy hai sáu năm chín gam) là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine”.

Tại Bản cáo trạng số 109/CT-VKS-Q5 ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Tân Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Tân Hữu N khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tân Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Tân Hữu N hình phạt tù giam với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, 01 (một) bóp da màu đen là vật dụng N dùng để cất giấy ma túy; trả lại cho bị cáo N 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI: 863880046717774; tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe mô tô biển số 59L1-201.09, số khung: RLHJC4319BY222340, số máy: JC43E1793693, không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc kNghĩa nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Đối với sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lương Hoàng M tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, ông M đã được cơ quan điều tra có thẩm quyền lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có yêu cầu gì trong vụ án; do đó sự vắng mặt của ông M không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Tân Hữu N tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Tân Hữu N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 19/02/2024 tại trước nhà số C đường T, Phường H, Quận E bị cáo N đã có hành vi tàng trữ 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu nhằm mục đích sử dụng. Theo Kết luận giám định số 2539/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể không màu cần giám định có khối lượng 0,2659 gam (không phẩy hai sáu năm chín gam) là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine”. Như vậy, bị cáo N đã có hành vi tàng trữ 0,2659 gam (không phẩy hai sáu năm chín gam) ma túy, loại Methamphetamine, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi tàng trữ ma túy nêu trên với lỗi cố ý do đó hành vi của bị cáo Tân Hữu N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây hại và nhận thức được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội; biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vẫn cố ý tàng trữ chất ma túy nhằm mục để sử dụng cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm mục đích giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.3] Nhân thân:

Bị cáo nghiện ma túy và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong nhưng chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử lý hành chính lại phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt phù hợp với nhân thân bị cáo.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được gói niêm phong số 836/24-Q5 bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thanh Đ và cán bộ Lê Trung T, trong đó có chứa ma túy, là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI: 863880046717774. Xét thấy chiếc điện thoại nêu trên là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 59L1-201.09, số khung: RLHJC4319BY222340, số máy: JC43E1793693. Kết quả xác minh phương tiện giao thông xác định xe mô tô nêu trên do ông Lương Hoàng M đứng tên chủ sở hữu. Xét lời khai của ông M về việc đã bán chiếc xe nêu trên bằng giấy tay cho một người thanh niên không nhớ rõ lai lịch và không có yêu cầu dân sự gì đối với chiếc xe; lời khai của bị cáo trình bày chiếc xe do chủ cửa hàng điện lạnh nơi bị cáo làm việc cho mượn của đi lại, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua xác minh, địa chỉ cửa hàng điện lạnh theo bị cáo cung cấp đã không còn hoạt động. Như vậy, bị cáo sử dụng chiếc xe không rõ nguồn gốc vào việc phạm tội nên cần giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nêu trên trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - 01 (một) bóp da màu đen là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để tàng trữ ma túy và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Đối với nam thanh niên không rõ lai lịch là đối tượng bán ma túy cho bị cáo Tân Hữu N, chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứng là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Tân Hữu N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 02 năm 2024.

  2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được gói niêm phong số 836/24-Q5 bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thanh Đ và cán bộ Lê Trung T; 01 (một) bóp da màu đen;
    • - Trả lại cho bị cáo Tân Hữu N 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI: 863880046717774;
    • - Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô biển số 59L1-201.09, số khung: RLHJC4319BY222340, số máy: JC43E1793693 trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

    (Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/8/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Tân Hữu N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an TP.HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tân Hữu N-Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger