Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Phan Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: số 177/2024/TLST–HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986. Thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ liên hệ: số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1985. Thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện tại: số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 4 năm 2024, lời khai trong quá trình tổ tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn T1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 13/02/2008 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01.2008 ngày 13/02/2008. Thời gian đầu hạnh phúc, từ năm 2020 đến nay thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, ông T1 thường xuyên đánh đập vợ con. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà T đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Nay, bà T không còn tình cảm gì đối với ông T1, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Quá trình sống chung hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Hải Y, sinh ngày 28/3/2009 và cháu Lê Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 03/5/2011. Ông T1 sống không có trách nhiệm với vợ con, khoảng 4 năm trở lại đây một mình bà T đi làm kiếm tiền nuôi 02 con và lo cho gia đình. Hiện nay, bà T buôn bán phế liệu thu nhập khoảng 25.000.000 đồng/tháng đủ điều kiện lo cho hai con phát triển bình thường. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn T1.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu nuôi con chung cháu Lê Hải Y, sinh ngày 28/3/2009 và cháu Lê Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 03/5/2011, không yêu cầu ông Lê Văn T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Lê Văn T1 trình bày: Thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung, quá trình chung sống và mâu thuẫn của vợ chồng. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông T1 có ý kiến như sau:

  1. Về hôn nhân: Đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T.
  2. Về con chung: Đề nghị Tòa án giải quyết mỗi người nuôi một cháu, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Lê Văn T1, nơi ở hiện tại: số 1353/16, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn T1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 13/02/2008 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01.2008 ngày 13/02/2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà T và ông T1 thừa nhận cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, từ năm 2020 đến nay thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, cùng nhau vun đắp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Đây cũng là nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, hiện nay bà T và ông T1 không còn tình cảm gì với nhau và không quan tâm đến cuộc sống của nhau, không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng và thống nhất ly hôn. Căn cứ Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T và ông T1.

[3] Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Lê Hải Y, sinh ngày 28/3/2009 và cháu Lê Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 03/5/2011. Bà T yêu cầu được nuôi 02 con chung, ông T1 yêu cầu được nuôi 01 con chung. Xét thấy, cháu Y và cháu D đang được bà T chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường, bà T có việc làm, có thu nhập đủ điều kiện để nuôi các con phát triển bình thường. Ngoài ra, cháu Y và cháu D đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng sống chung với bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Y và cháu D cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Lê Văn T1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn T1 thuận tình ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01.2008 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/02/2008)
  • - Về con chung: Giao con chung cháu Lê Hải Y, sinh ngày 28/3/2009 và cháu Lê Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 03/5/2011 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Lê Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con Lê Hải Y và Lê Nguyễn Ngọc D.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

  • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002927 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (01);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn ba Nguyễn Thị T và ông Lê Văn T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger