|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 22 - 7 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tô Cẩm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Danh;
- Ông Trần Văn Xuân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 359/2024/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1983 (Xin vắng mặt);
Cư trú tại: Khu phố H, thị trấn C, huyện G, tỉnh Long An;
- Bị đơn: Ông Hồ Văn Hoàng V, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
Cư trú tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện G, tỉnh Long An;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Bà và ông Hồ Văn Hoàng V tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72, quyển số 01, ngày 27/7/2015 của Ủy ban nhân dân xã K (nay là thị trấn C), huyện G, tỉnh Long An. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc được vài năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông V thường xuyên uống rượu, tham gia cờ bạc và có hành vi bạo lực gia đình với bà. Vì con, bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông V không thay đổi. Hiện, bà và ông V đã sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Văn Hoàng V.
Về con chung: Bà và ông V có 02 người con tên Hồ Nguyễn Đông N1, sinh ngày 26/01/2016 và Hồ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 24/10/2023. Hiện 02 con đều đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông V không có tài sản chung, nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề này.
Bà Nguyễn Thị Hồng N xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn ông Hồ Văn Hoàng V đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông V vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn ông Hồ Văn Hoàng V có nơi cư trú tại thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản, giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Hồ Văn Hoàng V tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K (nay là thị trấn C), huyện G, tỉnh Long An nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà N và ông V đã có thời gian chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên bà N nộp đơn xin ly hôn với ông V. Hiện tại, bà N và ông V không còn sống chung với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, ông V vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà N. Ông V cũng không có bất kỳ hành động nào thể hiện mong muốn hàn gắn tình cảm với bà N. Qua đó, xác định ông V không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, giữa ông V và bà N không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng N đối với ông Hồ Văn Hoàng V.
[2.2] Về con chung: Bà N và ông V 02 người con chung tên Hồ Nguyễn Đông N1, sinh ngày 26/01/2016 và Hồ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 24/10/2023. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung. Hiện tại, các con đều đang sống với bà N, có cuộc sống ổn định, cháu N1 có văn bản thể hiện ý kiến muốn được sống với bà N, cháu P chưa đủ 36 tháng tuổi. Đồng thời, ông V cũng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu nuôi con của bà N. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà N, giao 02 con chung cho bà N trực tiếp nuôi, theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định bà và ông V không có tài sản chung, nợ chung; ông V vắng mặt, không có ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng N là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19, Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84, 116 của Luật nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng N đối với ông Hồ Văn Hoàng V.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Hồ Văn Hoàng V.
- Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị Hồng N được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Hồ Nguyễn Đông N1, sinh ngày 26/01/2016 và Hồ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 24/10/2023.
Sau khi ly hôn, ông V, bà N có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Ông V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với bà N.
Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp, ông V lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông V.
Bà N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có căn cứ theo quy định của pháp luật, thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Hồng N đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0013004 ngày 31/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, chuyển sang án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Hồ Văn Hoàng V vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tô Cẩm Hương |
Bản án số 106/2024/HNGĐ – ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng N "Ly hôn" Hồ Văn Hoàng V
