|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HS-ST.
Ngày: 22/04/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tịnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Thân;
Ông Đoàn Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Bích Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Hoàng Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 04 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/HSST – QĐ ngày 08/04/2024 đối với bị cáo:
Phạm Diệu T, sinh 1997; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: thôn T, xã H, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Quân nhân xuất ngũ; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phạm Văn T1, sinh 1971; Con bà: Vương Thị N, sinh 1976; Chồng: Phạm Trung K, sinh 1997(đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2023; D chỉ bản số [...] lập ngày 25/01/2024 tại Công an quận N, Hà Nội; Tiền án tiền sự: không.
Bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an tp H1. (có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Lưu Ngọc Đ, sinh năm: 1998. HKTT: Số I Hưng Yên, phường N, tp N, Nam Định. Xin vắng mặt.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1992. HKTT: Xóm C, xã H, huyện H, Nam Định. Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Diệu T nguyên là cán bộ công tác tại Đoàn Văn công, Cục C, Quân khu A, đã được phục viên từ ngày 08/01/2024 theo Quyết định về việc phục viên đối với Quân nhân chuyên nghiệp số 08/QĐ-QK ngày 02/01/2024 của Quân khu A – Bộ Q1.
Sau khi phục viên, do T nợ nần xã hội nhiều, không có khả năng thanh toán và không có tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 09/01/2024, T nảy sinh ý định mượn xe máy của anh Lưu Ngọc Đ (sinh năm: 1998, HKTT: số I Hưng Yên, phường N, TP N, tỉnh Nam Định) để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài và trả nợ. Thư sau đó đã nhắn tin hỏi mượn anh Đ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng để đi lại và hẹn tối cùng ngày hoặc sáng hôm sau sẽ trả xe cho anh Đ. Thư biết nếu có đăng ký xe máy thì sẽ cầm cố được số tiền nhiều hơn nên đã lấy lý do sợ khi sử dụng phương tiện bị Cơ quan công an kiểm tra để đề nghị anh Đ cho mượn cả đăng ký xe. Anh Đ do tin tưởng và không nghi ngờ gì nên đã đồng ý cho T mượn xe và nhờ chị Nguyễn Thị Tố V (sinh năm: 2001, HKTT: xã P, huyện M, TP Hà Nội) mang xe đi đưa cho T mượn.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại số A đường Đ, phường M, quận N, TP Hà Nội, chị Nguyễn Thị Tố V đã giao chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 29P1 - 834.39 cùng Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 055758 mang tên Lê Ngân H (sinh năm: 1997, HKTT: P1315, N03 khu 5.03ha, phường D, quận C, TP Hà Nội - là vợ của anh Đ) cho T. Ngay sau khi mượn được xe, T đi xe đến cửa hàng cầm đồ số B đường M, phường M, quận N, TP Hà Nội, gặp anh Nguyễn Văn Q (sinh năm: 1992, HKTT: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) là chủ cửa hàng cầm đồ để cầm cố xe. Tại đây, anh Q hỏi T về nguồn gốc xe thì T nói xe của T mua lại trên mạng. Anh Q sau khi kiểm tra giấy tờ xe và số khung, số máy của xe thấy trùng khớp nên đã đồng ý cầm cố xe với giá 18 triệu đồng và đã chuyển khoản tiền từ số tài khoản 1888826288888 của mình tại Ngân hàng M đến tài khoản số 9986861997 của T tại Ngân hàng M. Số tiền cầm cố xe, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến hẹn trả xe, anh Đ không thấy T mang xe về trả nên đã đòi xe nhưng do T đã tiêu xài cá nhân hết số tiền cầm cố xe và không có tiền để chuộc xe máy về trả nên T đã đưa ra những thông tin gian dối là xe máy T đang để ở nhà bạn và bạn của T đi vắng, khóa cửa nên chưa lấy xe trả anh Đ hoặc do bạn của T đang về quê nên chưa lấy được xe máy trả anh Đại đ không trả xe cho anh Đ. Đến ngày 13/01/2024, do nhiều lần đòi T trả xe không được nên anh Đ đã đến Công an phường M trình báo, cùng ngày Phạm Diệu T đến cơ quan Công an đầu thú.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, BKS: 29P1 – 834.39; số khung: LY011362; số máy: E2290087, sản xuất năm 2020; đăng ký lần đầu ngày 05/02/2020; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 055758; 01 (một) chìa khóa SmartKey màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VOS 4.0, màu đen, IMEL 1: 35458110222750; IMEL 2: 354581110222768 (đã qua sử dụng), lắp sim số: 0963776421.
Đối với anh Nguyễn Văn Q, quá trình điều tra xác định khi cầm cố tài sản, anh Q không biết là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị UBND quận N xử lý đối với Nguyễn Văn Q về hành vi nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố, theo quy định tại điểm i khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/CP của Chính phủ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng - đen, BKS: 29P1-834.39, quá trình điều tra xác định: xe đứng tên chủ sở hữu là chị Lê Ngân H là vợ của anh Đ nên ngày 07/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả cho chị H chiếc xe máy cùng chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 055758 và chìa khóa SmartKey đã thu giữ. Chị H và anh Đ không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Quá trình điều tra, gia đình Phạm Diệu T đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q 18.000.000 đồng nên anh Q không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại cơ quan điều tra Phạm Diệu T khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 26/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã quyết định truy tố Phạm Diệu T tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa giữ nguyên bản Cáo trạng, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả nguy hiểm hành vi, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s, khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.
Về dân sự: Không giải quyết
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VOS 4.0, màu đen, IMEL 1: 35458110222750; IMEL 2: 354581110222768, có gắn thẻ sim (đã qua sử dụng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, chứng cứ và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024, tại số A đường Đ, phường M, quận N, TP Hà Nội, Phạm Diệu T do có mục đích chiếm đoạt xe máy để đem đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân nên đã nói dối vờ hỏi mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 29P1-83439 trị giá 21.000.000 đồng của anh Lưu Ngọc Đại đ1 đi lại sau đó đem xe đi cầm cố cho anh Nguyễn Văn Q lấy số tiền 18.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình, bức xúc đối với người bị hại và những người có quyền lợi liên quan khác. Bị cáo biết rõ hậu quả nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi cá nhân, thu lời bất chính cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc tiếp tục cách ly khỏi xã hội trong thời gian tương xứng để cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, đầu thú đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo
Dân sự: Tang vật đã thu hồi trả cho bị hại. Anh Đ và anh Q không yêu cầu bồi thường dân sự nên HĐXX không xét.
Đối với anh Nguyễn Văn Q, tài liệu điều tra thể hiện anh Q khi nhận cầm cố chiếc xe máy không biết tài sản do phạm tội mà có cơ quan Điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Q là có căn cứ.
Vật chứng: Do chiếc điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy cần tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VOS 4.0, màu đen, IMEL 1: 35458110222750; IMEL 2: 354581110222768, có gắn thẻ sim (đã qua sử dụng).
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt cũng như về trách nhiệm Dân sự và xử lý vật chứng cơ bản là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Diệu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt bị cáo Phạm Diệu T 08 (T2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
2. Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về trách nhiệm bồi thường Dân sự: Không giải quyết
Vật chứng: Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VOS 4.0, màu đen, IMEL 1: 35458110222750; IMEL 2: 354581110222768, có gắn thẻ sim (máy cũ đã qua sử dụng). Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo biên bản giao nhận vật chứng số 150 ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tịnh. |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM DIỆU THƯ
