|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2023/HS-ST Ngày: 21/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Luyến
- Ông Nguyễn Trung Kiên
- - Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên
Ngày 21/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2023/TLST-HS, ngày 28/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HS ngày 09/8/2023 đối với các bị cáo:
1/ Lường Văn S (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 01/01/1972; Tại: Than Uyên, Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: bản L, xã T, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn N (Đã chết) và bà Tòng Thị Gi - sinh năm: 1932; Bị cáo có vợ: Lò Thị E, sinh năm 1973 và 03 con: con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 93, ngày 31/8/2016, Lường Văn S bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên áp dụng khoản 1 Điều 25 –BLHS miễn trách nhiệm hình sự đối với Lường Văn S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ hồi 12 giờ 40 phút ngày 15/3/2023, tạm giam từ ngày 24/3/2023 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên (Có mặt).
2/ Lò Văn Ng (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 01/01/1983; Tại: Than Uyên, Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: bản V, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn M (đã chết) và bà Lường Thị L - sinh năm: 1962; Bị cáo sống chung như vợ, chồng với chị : Lường Thị Ph – Sinh năm: 1983 và 04 con: con lớn nhất sinh năm 2004; con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 cụ thể tại bản án số 24 ngày 01/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 06/01/2023, hiện chưa được xóa án tích.
Nhân thân: tại bản án số 03 ngày 05/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, Lai Châu xử phạt 18 tháng tù về tội : “Trộm cắp tài sản”, hiện đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ hồi 11 giờ ngày 15/3/2023, tạm giam từ ngày 24/3/2023 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lường Văn N– Sinh năm: 1983
- Địa chỉ: bản V, xã M, Than Uyên, Lai Châu. (Vắng mặt không có lý do).
Người làm chứng:
- Tòng Văn Qu, sinh năm: 1996; địa chỉ: bản Lun 1, xã T, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do)
- Hà Văn Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: bản L, xã T, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 14/3/2023, Lường Văn S đi từ nhà tại bản L, xã T, huyện Than Uyên đến bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine về bán kiếm lời. Tại bản Noong Thăng, S mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 400.000 đồng. Sau đó, S cất giấu Heroine vào trong túi quần rồi mang về nhà tại bản L, xã T, huyện Than Uyên.
Đến khoảng 09 giờ ngày 15/3/2023, Lường Văn S đang ở nhà thì có Tòng Văn Qu (sinh năm1996, trú tại bản Lun 1, xã T, huyện Than Uyên) đến gặp S hỏi mua Heroine để sử dụng. Do Q không có tiền nên S không bán Heroine cho Q. Một lúc sau có Hà Văn Đ (sinh năm 1972, trú tại bản L, xã T, huyện Than Uyên) đến nhà gặp Sứn hỏi mua Heroine. S lấy gói Heroine trong túi quần ra, cấu lấy một ít, gói lại bằng mảnh nilon màu hồng bán cho Đạn lấy 50.000 đồng. Quá trình S và Đạn mua bán Heroine ở dưới bếp, Q không nhìn thấy. Mua được Heroine, Đạn đi ra ngồi uống nước tại nhà Sứn cùng với Q. Lúc này, Đạn nói với Q: vừa mua được của Sứn 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng.
Ngay sau đó, có Lò Văn Ng đi xe mô tô đến nhà gặp S hỏi mua Heroine sử dụng. S lấy gói Heroine ra, cấu lấy một ít, gói lại bằng mảnh nilon màu hồng bán cho Ngoai lấy 200.000 đồng. Quá trình S bán Heroine cho Ngoai có Q và Đạn ngồi ở bàn uống nước nhìn thấy. Sau đó, Ngoai cấu lấy một ít Heroine sử dụng tại bàn uống nước nhà S bằng hình thức hít. Tại thời điểm Ngoai sử dụng Heroine, S đi xuống bếp nấu cơm nên không biết. Sau khi sử dụng Heroine,
Ngoai cất giấu số Heroine còn lại vào túi áo rồi đi về nhà. Đến 09 giờ 20 phút ngày 15/3/2023, Lò Văn Ng về đến bản Nà Khiết, xã M, huyện Than Uyên thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Lò Văn Ng 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng và 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn trắng - đen, biển kiểm soát: 25T1-020.22.
Giữ người và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Lường Văn S, Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng và số tiền 200.000 đồng do bán Heroine mà có.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số: 35,36, ngày 15/3/2023 của người giám định theo vụ việc và kết luận giám định số: 312/KL-KLGĐ ngày 17/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn Ng có khối lượng 0,09 gam là ma túy; loại Heroine (Heroin)”. Kết luận giám định số: 320/KL-KLGĐ ngày 18/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận Số chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lường Văn S có khối lượng 0,76 gam là ma túy; loại Heroine (Heroin);
Bản kết luận giám định số 313/GĐ-KTHS ngày 17/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lường Văn S gửi giám định là tiền thật.
Đối với xe mô tô thu giữ của Lò Văn Ng, quá trình điều tra, xác định: là tài tài sản hợp pháp của anh Lường Văn N, sinh năm 1983, trú tại bản V, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Khi cho mượn xe, Lường Văn N không biết Lò Văn Ng sử dụng xe vào việc phạm tội. Ngày 10/4/2023, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô cho Lường Văn N.
Vật chứng còn lại của vụ án: 0,68 gam Heroine; số tiền 200.000 đồng; 02 mảnh nilon màu hồng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu, hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
Bản cáo trạng số: 100/CT-VKS ngày 27/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố: đối với bị cáo Lường Văn S về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.
Đối với bị cáo Lò Văn Ng về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lường Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Bị cáo Lò Văn Ng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lường Văn S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Ng từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 15/3/2023.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251; khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015 đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,68 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu hồng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Số tiền 200.000 đồng và truy thu số tiền 50.000 đồng do bị cáo S bán Heroine mà có cần sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định.
Các bị cáo nhất trí và không tranh luận gì với bản luận tội của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, kết luận giám định, các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử (HĐXX) đủ cơ sở kết luận:
Ngày 14/3/2023, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, bị cáo Lường Văn S đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người phụ nữ không rõ lai lịch với giá 400.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Trong ngày 15/3/2023, S đã 02 lần bán trái phép chất ma túy mỗi lần 01 gói Heroine cho các đối tượng nghiện là Hà Văn Đ và Lò Văn Ng thu lời 250.000 đồng. Mua được Heroine, Đạn sử dụng hết, còn Lò Văn Ng cất giấu vào túi áo
mang về nhà để sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo Ngoai là 01 gói Heroine có khối lượng 0,09 gam; giữ người đối với bị cáo Lường Văn S thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,76 gam và số tiền 200.000 đồng của bị cáo S bán Heroine cho bị cáo Ngoai.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lường Văn S đã cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015. Hành vi của bị cáo Lò Văn Ng đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.
Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với hành vi phạm tội của các bị cáo theo các tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý đi ngược lại cuộc đấu tranh quyết liệt của Nhà nước và nhân dân ta, nhằm đẩy lùi và loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy nhưng vẫn lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lợi bất chính và đáp ứng nhu cầu không chính đáng của bản thân. Do vậy, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo sinh sống tại vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn; bị cáo S có bố đẻ là người có công với cách mạng nên cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[5] Về tình tiết tăng nặng và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét về nhân thân thì bị cáo Lò Văn Ng đã bị Tòa án nhân dân Than Uyên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Lường Văn S đã từng có hành vi liên quan đến chất ma túy, song được miễn trách nhiệm hình sự do chính sách hình sự có sự thay đổi. Các bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân, bị cáo S vì mục đích lợi nhuận của việc bán ma túy; bị cáo Ngoai vì nghiện chất ma túy nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện thái độ xem thường pháp luật.
Cả hai bị cáo, đều là những người trưởng thành, đầy đủ nhận thức tác hại của ma túy, nhưng với mục đích thu lợi bất chính từ việc bán ma túy, đồng thời có ma túy sử dụng cho nhu cầu không chính đáng của bản thân, các bị cáo đã bất
chấp sự ngăn cấm của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo, lao động sớm trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng mang tính đấu tranh, phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh tội phạm và tệ nạn ma túy hiện nay.
[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập chính từ trồng trọt. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo S; tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngoai;
[7] Biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[8] Về vật chứng của vụ án gồm: Tịch thu tiêu hủy 0,68 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu hồng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Số tiền 200.000đồng tạm giữ của Lường Văn S và truy thu số tiền 50.000 đồng do bị cáo S bán Heroine mà có cần sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với xe mô tô thu giữ của Lò Văn Ngoai, quá trình điều tra, xác định: là tài tài sản hợp pháp của anh Lường Văn Nam, sinh năm 1983, trú tại bản V, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Khi cho mượn xe, Lường Văn Nkhông biết Lò Văn Ng sử dụng xe vào việc phạm tội. Ngày 10/4/2023, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô cho Lường Văn Nlà phù hợp, Hội đồng xét xử không phải giải quyết.
Về nguồn gốc số Heroine bị cáo S khai mua của những người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Do các bị cáo Lường Văn S và Lò Văn Ng sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn giai đoạn 2021 – 2025 theo Quyết định 612/QĐ-UBDT của Ủy ban dân tộc ngày 16/9/2021 nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lường Văn S.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lò Văn Ng.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 – Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lường Văn S phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ng phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lường Văn S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Ng 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 15/3/2023.
2. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,68 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu hồng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đồng.
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2023 giữa Công an huyện Than Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên).
Truy thu số tiền 50.000 đồng của bị cáo Lường Văn S sung vào Ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí:
Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho mỗi bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định lên Toà án nhân dân cấp trên để xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Mỹ Hằng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Trung Kiên |
Hoàng Thị Luyến |
Lương Thị Mỹ Hằng |
Bản án số 106/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 106/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn S bị TAND huyện Than Uyên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán TPCMT theo khoản 2 Điều 251 - BLHS và Lò Văn Ng bị TAND huyện Than Uyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội TTTPCMT theo điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS
