|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 21–6 – 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Hữu Tấn
- Ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 158/2024/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 14/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 344/2024/QĐST – HNGĐ ngày 04/6/2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
-
Bị đơn: Ông Phan Văn Thanh G, sinh năm 1982
Địa chỉ: Số A, tổ A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
Tại phiên tòa, bà Lê Thị H vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt); ông Phan Văn T Giàu vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2024, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Văn Thanh G tự quen biết, tìm hiểu nhau. Ông, bà tự nguyên tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường M ngày 09/10/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Bà và ông G cũng ly thân từ thời gian đó đến nay. Do thời gian ly thân đã lâu nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn và bản thân bà không còn tình cảm với ông G nên bà yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Bà và ông Giàu c 04 con chung tên Phan Văn C, sinh ngày 11/9/2003, Phan Thị Ngọc H1, sinh ngày 07/9/2005, Phan Văn Thanh T1, sinh ngày 21/10/2008 và Phan Thị Ngọc M, sinh ngày 28/9/2019. Cháu Phan Văn C và Phan Thị Ngọc H1 đã thành niên và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con. Cháu Phan Văn Thanh T1 đang được ông G nuôi dưỡng nên bà đồng ý để cháu T1 tiếp tục sống với ông G. Hiện nay, bà đang nuôi dưỡng cháu Phan Thị Ngọc M nên bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M.
Bà không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi còn và bà cũng không cấp dưỡng cho ông G nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Bị đơn là ông G vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và điều 238 của BLTTDS.
Về nội dung: Do quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông G không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H. Về con chung, nhận thấy, cháu C, cháu H1 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, đối với các cháu T1 đang sinh sống ổn định với ông G và cháu M đang sinh sống ổn định với bà H. Do đó, để ổn định tâm lý cho các cháu nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà H và ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc giao cháu T1 cho ông G nuôi dưỡng. Do H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không cấp dưỡng cho ông G nuôi con và ông G cũng không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Tranh chấp giữa bà Lê Thị H và ông Phan Văn Thanh G là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
[2] Xét thấy, qua kết quả xác minh tình trạng cư trú ngày 15/4/2024 thể hiện, ông G đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số A, khóm M, phường M, thành phố L. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định ông Giàu có nơi cư trú hợp pháp là địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông G tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Phía bà H có đề nghị được vắng mặt khi xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Phan Văn Thanh G tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 437 ngày 09/10/2003 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[4] Bà H cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do bà và ông G bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Phía ông G được Tòa án nhiều lần triệu tập, tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, ông G vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà H, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa. Như vậy, ông G đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của BLTTDS và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải, động viên, phân tích để bà H có thể vì các con mà rút yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, bà H vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, mâu thuẫn của bà H và ông G đã trầm trọng, hai bên không còn quan tâm lẫn nhau. Xét thấy, mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn ông G.
[6] Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh số 651 ngày 08/3/2024 và bản sao Giấy khai sinh số 571 ngày 04/3/2024, Giấy khai sinh số 605 ngày 08/3/2024, Giấy khai sinh số 444 của Ủy ban nhân dân phường M, đã đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định bà H và ông Giàu c 04 con chung gồm cháu Phan Văn C sinh ngày 11/9/2003, Phan Thị Ngọc Hiếu s ngày 07/9/2005, Phan Văn Thanh T1 sinh ngày 21/10/2008 và Phan Thị Ngọc M sinh ngày 28/9/2019. Xét thấy, các cháu Phan văn C1, Phan Thị Ngọc H1 đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét về việc nuôi con sau khi ly hôn. Hiện nay, cháu Phan Thị Ngọc M đang được bà H trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Phan Văn Thanh T1 đang được ông G nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định tâm lý cho cháu T1 và cháu M, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà H và ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc giao cháu T1 cho ông G được trực tiếp nuôi dưỡng.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Do không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của ông G về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[9] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001710 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H được ly hôn ông Phan Văn Thanh G.
-
Về con chung: Ông, bà có 04 (bốn) con chung là Phan Văn C sinh ngày 11/9/2003 và Phan Thị Ngọc Hiếu s ngày 07/9/2005 đã thành niên và có khả năng lao động, Phan Văn Thanh T1 sinh ngày 21/10/2008 và Phan Thị Ngọc M sinh ngày 28/9/2019.
Giao cháu Phan Văn Thanh T1 cho ông G được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Giao cháu Phan Thị Ngọc M cho bà H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Bà H và ông G cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
-
Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
(Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001710 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 106/2024/HNGĐ – ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận y/c
