|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/HS-ST. Ngày: 21-5-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân.
1/Ông Nguyễn Văn Đô
2/ Ông Phạm Định Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Chu Đức Thọ – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/HSST ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-HS ngày 26/4/2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thị Thu L
(tên gọi khác: L1), sinh ngày 27/7/1989 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: số B đường T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12, Nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Nguyễn Chí K, sinh năm 1953 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1959; Chồng: Võ Quốc T (đã ly hôn); Con có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/8/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P; có mặt tại phiên tòa.
2/ Lê Ngô Bích T1
(Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 21/6/1996 tại Bình Thuận.
Nơi cư trú: khu phố C, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 08/12, Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; con ông Lê Văn T2, sinh năm 1973 và bà Ngô Thị L2, sinh năm 1975; Chồng, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không.
Bị cáo đến đầu thú ngày 14/9/2023 theo Quyết định truy nã, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Duy A
(tên gọi khác: Không có), Sinh ngày 25/12/1992 tại Bình Thuận.
Nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12, Nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1965 và bà Võ Thị T3, sinh năm 1971. Vợ: Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1997; Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/7/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P; có mặt tại phiên tòa.
4/ Ngô Vy Trúc M
(tên gọi khác: Không có), Sinh ngày 23/7/1997 tại Bình Thuận.
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12, Nghề nghiệp: làm thuê; con ông Ngô Hùng A1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1974; Chồng, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/7/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1993 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố P, tỉnh QBình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Viết D – Luật sư – Chi nhánh Văn phòng L5 tại Bình Thuận – Đoàn Luật sư tỉnh B (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
Ngô Uyên N1, sinh năm 2007, trú tại khu phố C, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nguyễn Thanh L3, sinh năm 1999, trú tại khu phố F, thị trấn L, huyện T, Bình Thuận; Nguyễn Minh H1, sinh năm 2004, trú tại thị trấn P, huyện T, Bình Thuận; Nguyễn Văn T5, sinh năm 2005, trú tại khu phố C, phường P, thành phố P, Bình Thuận; Nguyễn Hồng T6, sinh năm 1995, trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Phạm Thị Hồng N2, sinh năm 1993, trú tại xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Trần Thị Thùy O, sinh năm 1997, trú tại ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; Trần Thị Thanh C1, sinh năm 1992, trú tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Linh Đ, sinh năm 2006, trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nguyễn Văn B, sinh năm 2000, trú tại khu phố H, phường Đ, thành phố P và Lê Thành T7, sinh năm 2001 trú tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng tháng 7/2022, Nguyễn Thị Thu L, Lê Ngô Bích T1 và Nguyễn Thanh H cùng tham gia góp vốn để mở cơ sở kinh doanh dịch vụ massage tên “Massage Valentine” tại địa chỉ số B, đường N thuộc khu phố A, phường P, thành phố P. Nguyễn Thị Thi L4 chịu trách nhiệm tuyển dụng, quản lý các Kỹ thuật viên massage, sắp xếp nhân sự và điều hành cơ sở massage để hoạt động thông qua camera tại cơ sở; Lê Ngô Bích T1 là người trực tiếp quản lý việc thu chi, nhân viên tại cơ sở; Nguyễn Thanh H có nhiệm vụ thuê căn nhà tại địa chỉ số B, đường N thuộc khu phố A, phường P, thành phố P và tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh, giới thiệu khách đến massage tại cơ sở.
L4, T1, H thống nhất thuê Nguyễn Duy A đứng tên trên giấy phép kinh doanh với số tiền 3.000.000 đồng/tháng và phụ trách quản lý quầy bar, tư vấn cho khách hàng, phục vụ thức ăn, nước uống cho khách đến massage với số tiền 6.000.000 đồng/tháng; thuê Ngô Vy Trúc M và Ngô Uyên N1 làm lễ tân bán vé, tư vấn cho khách đến sử dụng dịch vụ với số tiền từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng; Nguyễn Thanh L3, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Văn T5 dọn phòng và dẫn khách lên phòng massage với số tiền từ 6.000.000 đồng đến 6.500.000 đồng/ tháng.
Các Kỹ thuật viên massage tại cơ sở M3 gồm: Nguyễn Hồng T6, Phạm Thị Hồng N2, Trần Thị Thùy O, Trần Thị Thanh C1, Nguyễn Linh Đ. Các Kỹ thuật viên massage tại cơ sở M3 không được trả lương hàng tháng mà thu nhập được hưởng là tiền Típ (bo) của khách đến massage. Giá vé massage tại cơ sở M3 dao động từ 600.000 đồng đến 4.000.000 đồng/lượt. Theo quy định tại Massage Valentine khi khách mua vé massage thì phải típ cho các Kỹ thuật viên massage số tiền bằng với tiền vé. Doanh thu từ tiền bán vé massage sau khi trừ các chi phí liên quan L4, H và T1 chia nhau ra hưởng đều.
Khi cơ sở Massage V đi vào hoạt động, doanh thu tốt nên thời gian này L4 răn đe Kỹ thuật viên massage không được bán dâm cho khách. Tuy nhiên đến khoảng cuối năm 2022, do cơ sở Massage Valentine vắng khách, doanh thu giảm xuống nên L4, T1, Duy A và một số Kỹ thuật viên massage họp lại với nhau để tìm cách tăng doanh thu tại cơ sở. Lúc này, một số Kỹ thuật viên massage đề xuất để cho Kỹ thuật v massage bán dâm cho khách tại cơ sở M3 luôn nhằm lôi kéo khách đến massage, tăng doanh thu thì L4 và T1, Duy A đồng ý, L4 nói: “Tụi em muốn làm gì thì làm nhưng phải massage thái đầu tiên cho khách”.
Sau khi được sự đồng ý của L4, T1, Duy A thì các Kỹ thuật viên massage đã thực hiện việc bán dâm cho khách đến massage tại cơ sở M3 khi có nhu cầu. Giá mua bán dâm do các Kỹ thuật viên massage tự thỏa thuận với khách và thu trực tiếp từ khách, không chia lại cho cơ sở M3. Trong trường hợp khách mua dâm không có tiền mặt để thanh toán tiền bán dâm cho Kỹ thuật v massage thì chuyển khoản vào tài khoản của Ngô Vy Trúc M, sau đó M sẽ chuyển khoản lại cho các Kỹ thuật viên massage.
Vào khoảng 22 giờ 25 phút ngày 21/7/2023, Nguyễn Duy A, Ngô Vy Trúc M và Lê Uyên N3 đang trực tại quầy lễ tân của cơ sở M3 thì Nguyễn Văn B và Lê Thành T7 đến mua 02 vé massage loại 600.000 đồng/1 vé. Lúc này, N3 sắp xếp B vào phòng số 16 và T7 vào phòng số 19 của cơ sở để massage.
Tại phòng số 16, Kỹ thuật viên massage Trần Thị Thanh C1 vào phục vụ massage cho B, tại đây B hỏi C1 là có quan hệ tình dục không, C1 nói là có và nói giá 1.500.000 đồng trên một lần quan hệ tình dục thì B đồng ý nên cả 02 đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục thì Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra Cơ sở M3 phát hiện, bắt quả tang Trần Thị Thanh C1 và Nguyễn Văn B đang có hành vi quan hệ tình dục với nhau tại phòng số 16 của Massage V. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ các tang vật liên quan.
Vật chứng của vụ án:
- -Thu giữ tại quầy lễ tân: 54 bảng gọi tour được in trên giấy A4; 54 bảng tính tour được in trên giấy A4; số tiền tiền Việt Nam: 4.991.000 đồng ;
- -Thu giữ của Nguyễn Duy A: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 356736083901503, có gắn sim số điện thoại: 0852.055.xxx;
- -Thu giữ của Ngô Uyên N1: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 864326054166610, số IMEI 2: 864326054166602;
- -Thu giữ của Ngô Vy Trúc M: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 351243324306845;
- -Thu giữ tại phòng số 16: 01 ruột bao cao su đã sử dụng, 01 vỏ bao bao cao su đã sử dụng hiệu HA ULTRA THIN.
- -Thu giữ tại phòng nghỉ chung của các Kỹ thuật viên massage: 372 bao cao su các loại chưa qua sử dụng.
- -Thu giữ của Trần Thị Thanh C1: 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY; 03 bao cao su chưa sử dụng hiệu HA ULTRA THIN; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, số IMEI: 353890106532028 có gắn sim số điện thoại: 0943.325.xxx;
- -Thu giữ của Nguyễn Văn B: Tiền Việt Nam: 2.800.000 đồng;
- -Thu giữ của Nguyễn Linh Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 868057057270937; số IME1 2: 868057057270929, có gắn sim số điện thoại: 0775.833.xxx;
- -Thu giữ của Lê Thành T7: Tiền Việt Nam: 2.300.000 đồng;
- -Thu giữ của Trần Thị Thùy O: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, số IMEI: 350636275000278, số điện thoại: 0932.900.xxx;
- -Thu giữ của Phạm Thị Hồng N2: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max, số IMEI: 35998454512384, số điện thoại: 0962.837.xxx;
- - Thu giữ của Nguyễn Hồng T6: 01 điện thoại di động hiệu VIVO, số IMEI1: 863601049727838, số IMEI2: 863601049727820;
- - Thu giữ của Nguyễn Thanh L3: 01 điện thoại di động hiệu REDMI, số IMEI1: 867243065458240, IMEI2: 867243065458257, gắn sim số điện thoại: 0862.033.xxx;
Cơ quan Công an còn thu giữ:
- - 01 thiết bị đầu thu màu đen, kích thước (38x32x4)cm, mặt trên có chữ HIKVISION, số seri D26377163;
- - 01 cánh cửa gổ bàn lễ tân kích thước (50x40x1,7)cm có gắn 09 công tắc chuông báo động;
- - 01 thiết bị điện tử kích thước (8x2,5)cm chưa rõ chức năng công dụng;
- - 02 chuông báo động, kích thước (10x5,4x2,8) cm tại phòng số 16 và phòng số 19.
Xử lý vật chứng:
Đối với 54 bảng gọi tour được in trên giấy A4; 54 bảng tính tour được in trên giấy A4 thu giữ tại quầy lễ tân được lưu trữ cùng hồ sơ vụ án.
Số tiền Việt Nam 4.991.000 đồng thu giữ tại quầy lễ tân khi bắt quả tang; 01 ruột bao cao su đã sử dụng, 01 vỏ bao cao su đã sử dụng hiệu HA ULTRA THIN thu giữ tại phòng số 16; 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY, 03 bao cao su chưa sử dụng hiệu HA ULTRA THIN thu giữ của Trần Thị Thanh C1; 01 thiết bị đầu thu màu đen, kích thước (38x32x4)cm, mặt trên có chữ HIKVISION, số seri D26377163; 01 cánh cửa gỗ bàn lễ tân kích thước 50x40x1,7cm có gắn 09 công tắc chuông báo động; 01 thiết bị điện tử kích thước (8x2,5x1)cm chưa rõ chức năng công dụng; 02 chuông báo động, kích thước (10x5,4x2,8)cm tại phòng số 16 và 19. Viện kiểm sát thành phố P đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.
Đối với số vật chứng gồm: 2.800.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Linh Đ; số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của Lê Thành T7; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen thu giữ của Ngô Uyên N1; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh thu giữ của Nguyễn Hồng T6; 01 điện thoại di động hiệu REDMI màu xanh thu giữ của Nguyễn Thanh L3. Cơ quan điều tra Công an thành phố P tiếp tục tạm giữ để trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với các vật chứng còn lại thu giữ trong quá trình bắt quả tang, không liên quan đến vụ án nên cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thị Thu L, Lê Ngô Bích T1, Nguyễn Duy A và Lê Ngô Trúc M1 đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 19/3/2024 về tội: “Chứa mại dâm” được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau: phân tích hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị HĐXX căn cứ:
- - khoản 1 Điều 327 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Thị Thu L mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
- - Khoản 1 Điều 327 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Lê Ngô Bích T1 mức án từ 15 tháng đến 21 tháng tù.
- - Khoản 1 Điều 327 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Duy A mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- - Khoản 1 Điều 327 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Ngô Vy T8 My mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- - Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) ruột bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su đã sử dụng hiệu HA ULTRA THIN thu giữ tại phòng 16; 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY; 03 bao cao su chưa sử dụng nhãn hiệu HA ULTRA THIN thu giữ của Trần Thị Thanh C1 thu giữ tại phòng số 4; 02 chuông báo động, kích thước (10x5,4x2,8)cm tại phòng 16 và 19 và 01 cánh cửa gỗ bàn lễ tân kích thước 50 x40x1,7cm có gắn 9 công tắc chuông báo động, do không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 4.991.000 đồng và 01 thiết bị đầu thu màu đen, kích thức (38x 32x4)cm, mặt trên có chữ HIKVISION, số seri D26377163; 01 thiết bị điện tử kích thước (8x2,5x1)cm chưa rõ chức năng công dụng; là vật chứng của vụ án.
Đối với số tiền 2.800.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Linh Đ; số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của Lê Thành T7; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen thu giữ của Ngô Uyên N1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh thu giữ của Nguyễn Hồng T6; 01 điện thoại di động hiệu REDMI màu xanh thu giữ của Nguyễn Thanh L3. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để trả lại cho chủ sở hữu.
Nguyễn Thanh H có hành vi góp vốn cùng với L và T1 nhưng H không tham gia quản lý tại cơ sở massage M3. H, L, T1 không có sự bàn bạc thống nhất trong việc mua bán dâm tại cơ sở massage M3 nên không đủ cơ sở để xử lý Nguyễn Thanh H với vai trò đồng phạm.
Nguyễn Minh H1, Nguyễn Thanh L3, Nguyễn Văn T5 làm thuê với nhiệm vụ dọn phòng và dẫn khách lên phòng masage; Ngô Uyên N1 làm thuê với nhiệm vụ bán vé massage cho khách do Nguyễn Thị Thu L, Lê Ngô Bích T1 thuê. N1, H1, L3, T5 không có hành vi giúp sức cho T1, L trong việc chứa mại dâm và không được hưởng lợi từ việc chứa mại dâm của L, T1 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Nguyễn Văn B có hành vi mua dâm; Trần Thị Thanh C1 có hành vi bán dâm đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự nên Công an thành phố P đã xử phạt hành chính theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Viện kiểm sát, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, cần rút kinh nghiệm một số nội dung sau: Tại bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 335/KL-ĐCSHS ngày 18/12/2023 (bút lục số 150) và Quyết định xử lý vật chứng số 270/QĐ-ĐCSHS ngày 18/12/2023 (bút lục số 147) đề nghị trả lại cho chủ sở hữu các tài sản, vật chứng không liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, tại hồ sơ vụ án không có biên bản về việc trả lại tài sản cho các chủ sở hữu nhưng thể hiện các vật chứng, tài sản không liên quan đến việc phạm tội đã trả lại cho chủ sở hữu. Tại phiên toà, sau khi tạm ngừng phiên toà thì Điều tra viên mới cung cấp 06 biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu và trả lại hai chiếc điện thoại cho bị cáo Nguyễn Duy A và Lê Vy Trúc M2.
[2] Về căn cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhân chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/7/2023, Nguyễn Thị Thu L, Lê Ngô Bích T1 có hành vi sử dụng căn nhà thuê tại số B, đường N, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P để cho Trần Thị Thanh C1 bán dâm cho Nguyễn Văn B tại phòng số 16 với giá tiền 1.500.000 đồng nhằm thu lợi từ việc bán vé massage thì bị bắt quả tang.
Nguyễn Duy A và Ngô Vy T8 M2 biết rõ Nguyễn Thị Thu L và Lê Ngô Bích T1 sử dụng cơ sở Massage Valentine do Duy A đứng tên trên Giấy phép kinh doanh để chứa mại dâm, A đã trực tiếp tham gia quản lý quầy bar, tư vấn, chăm sóc khách hàng khi khách mua dâm tại cơ sở, phục vụ đồ ăn, nước uống cho khách đến mua dâm tại phòng chờ của cơ sở; M2 biết rõ việc L, T1 chứa mại dâm tại cơ sở M3, M2 đã có hành vi giúp sức cho L, T1 trong việc tư vấn cho khách đến massage mua dâm, thu tiền bán dâm cho các Kỹ thuật viên massage tại cơ sở nên Anh và M2 phải chịu trách nhiệm hình sự chung với L và T1 với vai trò đồng phạm giúp sức.
Các bị cáo L, T1, A, M2 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi chứa mại dâm của L, T1, A, M2 đã xâm phạm trật tự công cộng, vi phạm thuần phong mỹ tục, đạo đức và nếp sống lành mạnh, văn minh. Các bị cáo biết được hành vi chứa mại dâm là vi phạm pháp luật, thế nhưng chỉ vì mong muốn có được lợi nhuận nên đã tổ chức chứa mại dâm để thu lợi bất chính. Vì vậy cần phải có một hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi do các bị cáo gây ra và cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo T1 tự thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Về nhân thân: Các bị cáo L, T1, A, M2 có nhân thân tốt nên cần xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng vụ án:
- - 01 (một) ruột bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su đã sử dụng hiệu HA ULTRA THIN thu giữ tại phòng 16; 01 cánh cửa gỗ bàn lễ tân kích thước 50 x40x1,7 cm có gắn 9 công tắc chuông báo động; 02 chuông báo động, kích thước (10x5,4x2,8) cm tại phòng 16 và 19; 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY, 03 bao cao su chưa sử dụng hiệu HA ULTRA THIN thu giữ của Trần Thị Thanh C1 là các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 4.991.000 đồng thu giữ tại quầy lễ tân; 01 thiết bị đầu thu màu đen, kích thức (38x 32x4) cm, mặt trên có chữ HIKVISION, số seri D26377163; 01 thiết bị điện tử kích thước (8x2,5x1) cm chưa rõ chức năng công dụng là vật chứng vụ án nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Đối với các đồ vật tài liệu bị tạm giữ:
- -01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 356736083901503, có gắn sim số điện thoại: 0852.055.xxx đã trả lại cho Nguyễn Duy A;
- -01 điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 351243324306845 đã trả lại cho Ngô Vy Trúc M;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, số IMEI: 353890106532028 có gắn sim số điện thoại: 0943.325.xxx đã trả lại cho C1.
- -01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, số IMEI: 350636275000278, số điện thoại: 0932.900.xxx đã trả lại cho O;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max, số IMEI: 35998454512384, số điện thoại: 0962.837.xxx đã trả lại cho N2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với số tiền 2.800.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Linh Đ; số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của Lê Thành T7; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen thu giữ của Ngô Uyên N1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh thu giữ của Nguyễn Hồng T6; 01 điện thoại di động hiệu REDMI màu xanh thu giữ của Nguyễn Thanh L3 là tài sản của những người nêu trên, không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị các ông bà có tên trên liên hệ với cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P để nhận lại tài sản của mình.
[8] Đối với Nguyễn Thanh H, Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết đã ban hành Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 05 ngày 24/4/2024 để làm rõ hành vi đồng phạm. Tuy nhiên ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ban hành công văn giữ nguyên quyết định truy tố đối với H. Vì vậy Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục làm rõ, nếu có cơ cở để xử lý đồng phạm về hành vi chứa mại dâm thì tách hành vi của Nguyễn Thanh H để xem xét xử lý sau.
[9] Nguyễn Minh H1, Nguyễn Thanh L3, Nguyễn Văn T5 làm thuê với nhiệm vụ dọn phòng và dẫn khách lên phòng masage; Ngô Uyên N1 làm thuê với nhiệm vụ bán vé massage cho khách do Nguyễn Thị Thu L, Lê Ngô Bích T1 thuê. N1, H1, L3, T5 không có hành vi giúp sức cho T1, L trong việc chứa mại dâm và không được hưởng lợi từ việc chứa mại dâm của L, T1 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
[10] Nguyễn Văn B có hành vi mua dâm; Trần Thị Thanh C1 có hành vi bán dâm đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự nên Công an thành phố P đã xử phạt hành chính theo quy định.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Nguyễn Thị Thu L, phạm tội: “Chứa mại dâm”.
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/8/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Lê Ngô Bích T1, phạm tội: “Chứa mại dâm”.
Xử phạt: Lê Ngô Bích T1 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/9/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Nguyễn Duy A, phạm tội: “Chứa mại dâm”.
Xử phạt: Nguyễn Duy A 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/7/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Ngô Vy Trúc M, phạm tội: “Chứa mại dâm”.
Xử phạt: Ngô Vy Trúc M 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/7/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) ruột bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su đã sử dụng hiệu HA ULTRA THIN thu giữ tại phòng 16.
- + 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY, 03 bao cao su chưa sử dụng hiệu HA ULTRA THIN thu giữ của Trần Thị Thanh C1.
- + 01 cánh cửa gỗ bàn lễ tân kích thước 50x40x1,7cm có gắn 9 công tắc chuông báo động.
- + 02 chuông báo động, kích thước (10x5,4x2,8) cm tại phòng 16 và 19.
Là các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- + 4.991.000 đồng thu giữ tại quầy lễ tân.
- + 01 thiết bị đầu thu màu đen, kích thức (38x 32x4)cm, mặt trên có chữ HIKVISION, số seri D26377163.
- + 01 thiết bị điện tử kích thước (8x2,5x1) cm chưa rõ chức năng công dụng.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng số 122 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Giấy nộp tiền mặt ngày 20/5/2024 tại Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh B1).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo L, T1, A, M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bào chữa cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/5/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Thái |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Thái
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội chứa mại dâm
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Liễu cùng đồng phạm phạm tội chứa mại dâm
