Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 106/2025/DS-PT

Ngày: 19 - 02 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Chí Đức;

Ông Phạm Văn Ngọt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 332/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3924/2024/QĐXXPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 4259/2024/QĐPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024, Thông báo về việc tiếp tục phiên tòa số 56/2025/QĐPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 343/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ông Lê Văn M, sinh năm 1975; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Võ Văn S, sinh năm 1962; (có mặt)

2.2. Bà Lê Thị Tuyết P, sinh năm 1962; (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

3. Người kháng cáo: Ông Võ Văn S và bà Lê Thị Tuyết P, là bị đơn.

4. Có kháng nghị của: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn M trình bày:

Vào khoảng năm 2018 - 2019, bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S nhờ ông M vay tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh huyện M, tỉnh Bến Tre số tiền 400.000.000 đồng. Bà P và ông S có thế chấp tại Ngân hàng hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông M đã vay tại Ngân hàng này số tiền 1.600.000.000 đồng, có thế chấp bốn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M, một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D và hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S và bà P. Sau khi nhận tiền từ Ngân hàng, ông M đã giao cho bà P và ông S số tiền 400.000.000 đồng. Ông S và bà P cũng đã trả lãi đầy đủ đến ngày 18/11/2020.

Đến ngày 18/11/2020 là ngày trả nợ gốc cho Ngân hàng, ông M yêu cầu bà P và ông S trả số tiền 400.000.000 đồng nợ gốc nhưng bà P và ông S không có tiền để trả nợ nên ông M phải trả nợ thay cho bà P và ông S. Sau đó, ông M đã trả lại hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P và ông S, đồng thời yêu cầu bà P và ông S trả nợ. Bà P và ông S hẹn với ông M khi vay Ngân hàng lại được sẽ trả tiền nhưng đến nay bà P và ông S vẫn không trả nợ.

Nay ông M yêu cầu bà P và ông S có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng, tính lãi theo mức lãi suất 0,7%/tháng từ ngày 19/11/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Văn S và bà Lê Thị Tuyết P trình bày:

Bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S thừa nhận có nhờ ông M vay tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh huyện M, tỉnh Bến Tre số tiền 400.000.000 đồng như ông M khai là đúng. Tuy nhiên, bà P và ông S đã giao cho ông M đủ số tiền 400.000.000 đồng để ông M trả tiền nợ gốc vào ngày 18/11/2020 nhưng không có yêu cầu ông M viết biên nhận tiền vì giữa bà P và ông M là chị em ruột.

Nay ông M yêu cầu bà P và ông S có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng, tính lãi theo mức lãi suất 0,7%/tháng từ ngày 19/11/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm thì bà P và ông S không đồng ý vì hiện tại bà P và ông S không còn nợ ông M.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã tuyên:

Căn cứ vào các điều 147, 235, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn M.

Buộc bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Văn M số tiền 524.600.000₫ (năm trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về lãi chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/8/2024, bị đơn bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S kháng cáo bản án sơ thẩm. Nội dung kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 10/10/2024, bị đơn bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S có đơn kháng cáo bổ sung nội dung trình bày yêu cầu phản tố đối với ông Lê Văn M.

Ngày 29/8/2024, Viện trưởng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 13/QĐ-VKS-DS, nội dung kháng nghị: Đề nghị xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà P có nộp bản chính giấy không đề ngày, tháng, năm có tiêu đề “tiền bên đây thiếu” cho rằng là chữ viết của ông M. Các bị đơn bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Nguyên đơn ông M không đồng ý với kháng cáo của các bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Tại phiên tòa, kiểm sát viên thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

+ Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S;

+ Sửa bản án sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo hướng:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn M;

Buộc bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Văn M số tiền 124.100.000 đồng và tính lãi chậm trả theo lãi suất 0,7%/tháng tính từ tháng 11/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S kháng cáo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre kháng nghị và thực hiện các thủ tục kháng cáo, kháng nghị hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Theo đơn kháng cáo bổ sung, bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S trình bày yêu cầu phản tố đối với ông Lê Văn M. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã giải thích với bà P và ông S về việc yêu cầu phản tố phải được thực hiện ở giai đoạn sơ thẩm theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét đối với nội dung phản tố bổ sung nêu trong đơn kháng cáo bổ sung, chỉ xem xét đơn kháng cáo ngày 12/8/2024.

[2] Về nội dung:

Nguyên đơn ông M yêu cầu bà P và ông S có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng, tính lãi theo mức lãi suất 0,7%/tháng từ ngày 19/11/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.

Bị đơn bà P, ông S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào ngày 16/11/2018 và ngày 15/11/2019 ông M có hợp đồng vay với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B - Phòng G. Để đảm bảo cho khoản vay, các bên đã lập một hợp đồng thế chấp bất động sản ngày 16/11/2018 và ba hợp đồng thế chấp bằng bất động sản để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác ngày 28/01/2029, ngày 10/4/2019 và ngày 19/8/2029. Đồng thời theo Văn bản số 63/TB-BIDV.BTE ngày 08/5/2024 và Văn bản số 231/BIDV.BTE.QLRR ngày 17/6/2024 của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B thì ông Lê Văn M đã tất toán các khoản vay tại B1, ngày tất toán khoản vay sau cùng là ngày 18/11/2020.

Các đương sự thống nhất ông M có vay dùm vợ chồng bà P, ông S số tiền 400.000.000 đồng. Ông M và vợ chồng bà P, ông S đều thừa nhận sau khi ngân hàng giải ngân tiền vay cho ông M xong thì ông M đã giao đủ số tiền 400.000.000 đồng cho bà P và ông S. Đây là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét lời trình bày của bà P và ông S cho rằng đã trả cho ông M đủ số tiền 400.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng nhưng không có làm giấy tờ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo về việc giao nộp chứng cứ số 39/2024/TB-TA ngày 16/4/2024 để yêu cầu bà P và ông S cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc đã trả cho ông M đủ số tiền 400.000.000 đồng nhưng đến nay bà P và ông S không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này.

Quá trình giải quyết vụ án, bà P và ông S có cung cấp tài liệu là tờ giấy phô tô có tựa đề “tiền bên đây thiếu”. Bà P trình bày tờ giấy này do chính ông M viết, nội dung thể hiện giữa bà P và ông M có vay mượn tiền qua lại lẫn nhau. Theo tờ giấy phô tô có phần nội dung: “...Tổng cộng tất cả tôi thiếu là 275.900.000₫ - 400.000.000, số nợ còn lại là 124.100.000 đồng”. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không yêu cầu bà P cung cấp bản chính để đối chiếu, không làm rõ giấy này có phải do ông M viết hay không, cũng như làm rõ các khoản tiền thể hiện trong tờ giấy này để làm cơ sở giải quyết toàn diện vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/10/2024, Hội đồng xét xử đã thu thập bản chính của tờ giấy phô tô có tựa đề “tiền bên đây thiếu” và tiến hành giám định chữ viết của ông M theo yêu cầu của bà P và ông S. Kết quả giám định số 1031/2024/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận chữ viết trên tờ giấy này là của ông M. Do đó, có cơ sở xác định giữa bà P, ông S và ông M có vay mượn tiền qua lại lẫn nhau và ông M đã tự cấn trừ tiền bà P và ông S nợ ông M vào tiền ông M còn nợ bà P và ông S. Do đó, số tiền bà P, ông S còn nợ ông M là 124.100.000 đồng. Bà P, ông S không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả tiền cho ông M nên bà P, ông S phải có nghĩa vụ trả cho ông M số tiền 124.100.000 đồng.

[2.1.2] Sau khi vay tiền, bà P và ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên ông M yêu cầu bà P và ông S trả tiền lãi là phù hợp với quy định theo các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông S yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 7%/tháng tính từ tháng 11/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, do có việc cấn trừ nợ như nêu trên nên cần xác định thời gian cấn trừ nợ theo giấy viết tay “tiền bên đây thiếu” để tính toán tiền lãi cho chính xác. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/02/2025, bà P và ông S thống nhất trình bày thời điểm ông M đưa giấy viết tay “tiền bên đây thiếu” là vào tháng 3/2023 nên tính lãi như sau:

Tiền lãi của số tiền 400.000.000 đồng tính từ tháng 11/2020 đến tháng 3/2023 là 28 tháng: 400.000.000 đồng x 0,7%/tháng x 28 tháng = 78.400.000 đồng.

Tiền lãi của số tiền 124.100.000 đồng tính từ tháng 4/2023 đến khi xét xử sơ thẩm là tháng 8/2024 là 16 tháng: 124.100.000 đồng x 0,7%/tháng x 16 tháng = 13.899.200 đồng.

Như vậy, tổng số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 92.299.200 đồng.

[2.2] Xét kháng nghị, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 29/8/2024, Viện trưởng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 13/QĐ-VKS-DS, nội dung kháng nghị: Đề nghị xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S; sửa bản án sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn M, buộc bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Văn M số tiền 124.100.000 đồng và tính lãi chậm trả theo lãi suất 0,7%/tháng tính từ tháng 11/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Như đã phân tích trên, do có chứng cứ đủ cơ sở để giải quyết vụ án nên không cần thiết phải hủy Bản án sơ thẩm, việc thay đổi nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đảm bảo quyền, lợi ích của các bên đương sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bà P và ông S kháng cáo có căn cứ một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.

Ông Lê Văn M yêu cầu bà P và ông S có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng và tính lãi theo mức lãi suất 0,7%/tháng từ ngày 19/11/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, tổng cộng số tiền gốc và lãi theo Bản án sơ thẩm đã tuyên là 524.600.000 đồng. Tuy nhiên, như đã phân tích trên, phần yêu cầu khởi kiện của ông M được chấp nhận tổng cộng là 216.399.200 đồng. Như vậy, phần yêu cầu của ông M không được chấp nhận số tiền là 308.200.800 đồng. Do đó, ông M phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận là 308.200.800 đồng x 5% = 15.410.040 đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà P, ông S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[7] Về chi phí tố tụng khác:

Ông Lê Văn M phải chịu chi phí giám định chữ viết là 4.552.000 đồng. Do bà Lê Thị Tuyết P đã nộp tạm ứng nên ông Lê Văn M phải trả lại cho bà Lê Thị Tuyết P số tiền là 4.552.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S.

Chấp nhận việc thay đổi Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 13/QĐ-VKS-DS ngày 29/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ các điều 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S.

Buộc bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Văn M số tiền tổng cộng là 216.399.200đ (hai trăm mười sáu triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm đồng), trong đó tiền gốc là 124.100.000₫ (một trăm hai mươi bốn triệu, một trăm nghìn đồng) và tiền lãi là 92.299.200đ (chín mươi hai triệu, hai trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn M đối với bị đơn bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S số tiền là 308.200.800₫ (ba trăm lẻ tám triệu, hai trăm nghìn, tám trăm đồng).

3. Về án phí:

3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.

Ông Lê Văn M phải chịu án phí phần yêu cầu không được chấp nhận là 15.410.040đ (mười lăm triệu, bốn trăm mười nghìn, không trăm bốn mươi đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn M đã nộp là 12.016.000₫ (mười hai triệu, không trăm mười sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002260 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Ông Lê Văn M phải tiếp tục nộp số tiền là 3.394.040đ (ba triệu, ba trăm chín mươi bốn nghìn, không trăm bốn mươi đồng).

3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Lê Thị Tuyết P và ông Võ Văn S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

4. Về chi phí tố tụng khác:

Ông Lê Văn M phải chịu chi phí giám định chữ viết là 4.552.000đ (bốn triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn đồng). Do bà Lê Thị Tuyết P đã nộp tạm ứng nên ông Lê Văn M phải trả lại cho bà Lê Thị Tuyết P số tiền là 4.552.000đ (bốn triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Bến Tre;

- TAND huyện Mỏ Cày Nam;

- Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam;

- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;

- Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 106/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị Tuyết P, ông Võ Văn S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger