Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 106/2025/DS-PT

Ngày: 12-02-2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất và hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Kim Nga

2. Ông Đặng Văn Những

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 633/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 637/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Chị Trần Thị Ngọc Ý, sinh năm: 1999. Địa chỉ: 4 Đ, phường A, Quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

    2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị P: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Theo văn bản ủy quyền ngày 25/9/2024

    3. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị D: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Theo văn bản ủy quyền ngày 09/9/2024

  4. Ủy ban nhân dân huyện V. Địa chỉ: Đường C, khu phố M, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn C - Chủ tịch.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện V: Ông Trần Hữu H - Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường

  5. Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/6/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/9/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Vào năm 2008, ông có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ 01 thửa đất có diện tích 7.480m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện V cấp ngày 06/7/1998 do ông đứng tên, với giá 60.000.000 đồng/1 ha, diện tích 7.480m² thành tiền là 44.880.000 đồng và giao ông Đ giao 44.800.000 đồng cho ông thành 03 lần nhưng không nhớ cụ thể về thời gian. Ngoài ra, thửa đất này còn lại khoảng 1.500m² chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cho nên ông Nguyễn Văn Đ không nhận chuyển nhượng và có nói khi đo đạc lại dư sẽ trả hoặc đổi đất chỗ khác, còn nếu dự ít thì thôi. Vì vậy, phần đất thừa ra khoảng 1.500m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng là còn của ông. Sau đó ông Đ cho ông Nguyễn Văn B (em vợ ông) thuê đất nhận chuyển nhượng của ông và phần đất khoảng 1.500m² còn lại của ông để canh tác từ năm 2010 đến nay. Đến khi UBND xã T ra thông báo đo đạc và làm giấy đất lại thì ông có nhờ đơn vị đo đạc đến để đo đạc và đồng thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của phần đất khoảng 1.500 m² còn lại cho ông, thì ông Đ1 bắt đầu khiếu nại phần đất dư thừa nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là của mình và đồng thời gửi đơn yêu cầu giải quyết cho UBND xã T. Đến ngày 26/12/2023 Ban Q và UBND xã T đã mời ông cùng ông Đ đến UBND xã T để hòa giải là trả phần đất khoảng 1.500m² lại cho ông. Và sau đó ngày 02/01/2024 ông Đ đã làm đơn khởi kiện ông đến Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, đến ngày 04/3/2024 thì ông Đ xin rút đơn khởi kiện và sau khi rút đơn kiện. Ngày 20/4/2024 ông Đ ngang nhiên nhổ cọc ranh đất giữa ông và ông Đ và nói đây là phần đất của mình.

Ông khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ trả lại cho ông 1.500m² tại thửa 500. Ngày 24/9/2024 ông khởi kiện bổ sung yêu cầu ông Đ trả 1.828m² tại thửa 500 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V; Trường hợp giao đất cho ông Đ thì ông yêu cầu ông Đ trả 115.764.000 đồng.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông không thông nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn T, ông trình bày vào năm 2008 ông có nhận chuyển nhượng 01 miếng đất của ông Nguyễn Văn T diện tích gần 1 ha, với giá 60.000.000đồng/1 ha, ông đã trả cho ông T số tiền là 53.000.000 đồng, ông giao cho ông T lần đầu với số tiền 3.000.000 đồng, sau đó khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì giao hết số tiền còn lại.

Ông T tiến hành giao đất cho ông canh tác sản xuất từ năm 2009 có diện tích khoảng 9 công. Giao đất xong ông T tiến hành làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất cho ông, nhưng khi làm thủ tục sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T chỉ có diện tích diện tích 7.480m², nên ông chỉ nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 22/01/2009, diện tích 7.480m², thửa số 504, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

Thửa đất trên ông vẫn sử dụng và canh tác ổn định đúng vị trí ranh đất ông Tâm G từ khi mua đất, đến năm 2010 cho ông Nguyễn Văn B thuê đến vụ đông xuân 2024-2025 là hết hạn hợp đồng. Các hộ lân cận ranh đất ông gồm các ông Nguyễn Văn X, Nguyễn Văn L1, Trần Văn C1, Lê Văn D1 đều biết rõ vị trí ranh đất ông Tâm giao đất cho ông canh tác từ năm 2009, đến khi nhà nước có thông báo đăng ký lại diện tích đất thì ông mới biết rõ diện tích của thửa đất 504 ông đang canh tác thừa hơn 1.500m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đang đứng tên.

Đến chiều ngày 10/12/2023 ông Nguyễn Văn T ngang nhiên ra cắm cọc phân ranh giành phần đất ông chưa được cấp giấy, ông T cho rằng phần đất thừa trên là của ông T. Ngày 26/12/2023 ông có làm đơn nhờ chính quyền địa phương giải quyết nhưng không thành. Ông có làm đơn khởi kiện nhưng đất do ông đang sử dụng nên đã rút đơn để khi nào ông T tranh chấp thì ông sẽ tham gia.

Trước yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông trả 1.828m² tại thửa 500 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V thì ông không đồng ý. Đồng thời có yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và ông Nguyễn Văn T với diện tích 1.828m² tại thửa 500 nêu trên.

Tại Bản án dân sự số 56/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã tuyên:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 116, 117, 357, 468, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 99, 101, 166, 203 của Luật Đất đai 2013;

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn Đ.

  2. Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Đ về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn T.

  3. Xác định ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng đất với diện tích 1.828m² đất lúa tại một phần thửa 500 tờ bản đồ số 2 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Vị trí đất theo Mảnh trích đo địa chính số 145-2024 ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V.

  4. Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho ông Nguyễn Văn T diện tích 1.828m² đất lúa tại một phần thửa 500 tờ bản đồ số 2 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Vị trí đất theo Mảnh trích đo địa chính số 145-2024 ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V.

    Ông Nguyễn Văn T có quyền đến cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.828m² đất lúa tại một phần thửa 500 tờ bản đồ số 2 nêu trên theo quy định của pháp luật.

    Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được xác lập quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.

  5. Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 57.582.000 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm tám mươi hai nghìn đồng).

  6. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền 7.813.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ phải chịu toàn bộ. Nên ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 7.813.000 đồng (Bảy triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).

  7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  8. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.

Ngày 09 và 10 tháng10 năm 2024, ông Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đ, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông Đ với diện tích 1.828m² tại thửa 500 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Chị Ý đại diện ông Đ trình bày: yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đ, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông Đ với diện tích 1.828m2 tại thửa 500, bởi vì: ông Đ có quá trình ổn định và có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi ông T không có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai.

Ông T, anh L trình bày: ông T không có chuyển nhượng với diện tích 1.828m2 tại thửa 500. Cho ông Đ. Ông T, anh L đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tất cả đều chấp hành theo quy định.

Kháng cáo của ông Đ đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự (đơn kháng cáo), đảm bảo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thời hạn kháng cáo. Ngày 11/10/2024 ông Đ nộp tiền tạm ứng án phí. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Quan điểm giải quyết:

Xét thấy nguồn gốc diện tích đất 1.828m2 tranh chấp là ông Nguyễn Văn Đ sử dụng đất trên cơ sở nhận chuyển nhượng từ ông T. Tuy nhiên, ông Đ cho rằng mình nhận chuyển nhượng gần 01 ha và giao ông T 53.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Hơn nửa khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đo đạc, không có biên bản giao nhận tiền, trong khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 02/12/2008 có thể hiện số thửa chuyển nhượng và diện tích là 7.480m2. Do đó cần xác định chứng cứ giải quyết vụ án là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/12/2008 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Đ thể hiện chỉ có diện tích 7.480m2 tại thửa 504 tờ bản đồ số 2 do ông Nguyễn Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện V cấp ngày 06/7/1998.

Ông Đ không có chứng cứ chứng minh ông T đã chuyển nhượng cho ông diện tích 1.828m2 tại một phần thửa 500, ông Đ không chứng minh được ông đã giao số tiền 53.000.000 đồng cho ông T, ông T chỉ thừa nhận 44.880.000 đồng của diện tích 7.480m2 tại thửa 504 nên không có căn cứ thể hiện ông Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T với diện tích 1.828m2 tại thửa 500.

Từ phân tích trên thấy rằng kháng cáo của ông Đ là không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục:

    1. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

    2. Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    3. Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, thấy rằng:

    1. Các đương sự thống nhất đất tranh chấp thuộc vị trí A có diện tích 1.828m² thuộc 1 phần thửa 500, tờ bản đồ số 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất (Mảnh trích đo địa chính số 145-2024 ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V), hiện ông B đang quản lý sử dụng. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    2. Các đương sự thống nhất ngày 02/12/2008 ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Đ có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 7.480m2 tại thửa 504 tờ bản đồ số 2 do ông Nguyễn Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện V cấp ngày 06/7/1998, đất tọa lạc ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An được UBND xã T chứng thực. Ngày 22/01/2009 ông Nguyễn Văn Đ được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên. Khi chuyển nhượng hai bên tự đo với nhau và giao đất trên thực tế, giá chuyển nhượng là 60.000.000 đồng/ha (6.000 đồng/m²). Hai bên tự giao nhận tiền với nhau, không làm giấy tờ gì và cũng không có người làm chứng.

    3. Ông Nguyễn Văn T cho rằng vào năm 2008 chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ với diện tích 7.480m² đất lúa đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn 1.828m² đất lúa tại một phần thửa 500 tờ bản đồ số 2 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Đ không đồng ý nhận chuyển nhượng, do diện tích đất nhỏ quá khó sử dụng nên ông để cho ông Đ canh tác và có thỏa thuận khi nào đo đạt lại nếu dư nhiều thì đổi đất và còn dư ít thì thôi, ông Đ đã giao cho ông số tiền 44.880.000 đồng. Còn ông Nguyễn Văn Đ thì cho rằng năm 2008 nhận chuyển nhượng của ông T gần 01ha nên ông đã giao cho ông T số tiền 53.000.000 đồng.

    4. Xét thấy, nguồn gốc diện tích đất 1.828m² tranh chấp là của ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Đ cho rằng ông T đã chuyển nhượng cho ông Đ. Tuy nhiên, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đo đạc, không có biên bản giao nhận tiền, trong khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 02/12/2008 không thể hiện số tiền chuyển nhượng. Tại Bản tự khai ngày 02/01/2024 ông Đ trình bày diện tích đất ông canh tác thừa hơn 1.000m², ông Đ đã làm đơn khởi kiện ông T với diện tích 1.000m² và sau đó rút đơn khởi kiện. Ông T kiện ông Đ diện tích 1.500m² nhưng kết quả đo đạc là 1.828m². Nên có căn cứ các bên không biết cụ thể diện tích đất thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là bao nhiêu, ông T đã giao đất cho ông Đ sử dụng, sau đó ông Đ đã cho ông B thuê từ năm 2015 đến nay, không ai tranh chấp. Ông B và ông Đ trình bày thống nhất diện tích đất hai bên thỏa thuận cho thuê là 8.000m² (8 công).

    5. Căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/12/2008 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn Đ thể hiện chỉ có diện tích 7.480m² tại thửa 504 tờ bản đồ số 2 do ông Nguyễn Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện V cấp ngày 06/7/1998, đất tọa lạc ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An được UBND xã T chứng thực. Ngày 22/01/2009 ông Nguyễn Văn Đ được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên. Ông Đ không có chứng cứ chứng minh ông T đã chuyển nhượng cho ông diện tích 1.828m² thuộc một phần thửa 500, ông Đ không chứng minh được ông đã giao số tiền 53.000.000 đồng cho ông T, trong khi ông T chỉ thừa nhận 44.880.000 đồng của diện tích 7.480m² tại thửa 504. Nên không có căn cứ xác định ông Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T với diện tích 1.828m² tại thửa 500. Nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn Đ và bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Đ về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn T ông Đ có nghĩa vụ giao cho ông T diện tích đất dư so với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/12/2008 là 1.828m² cho ông T là có căn cứ. Kháng cáo của ông Đ là không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

  3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 116, 117, 357, 468, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự; Điều 99, 101, 166, 203 Luật Đất đai 2013

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn Đ.

  2. Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Đ về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn T.

  3. Xác định ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng đất với diện tích 1.828m² đất lúa tại một phần thửa 500 tờ bản đồ số 2 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Vị trí đất theo Mảnh trích đo địa chính số 145-2024 ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V.

  4. Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho ông Nguyễn Văn T diện tích 1.828m² đất lúa tại một phần thửa 500 tờ bản đồ số 2 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Vị trí đất theo Mảnh trích đo địa chính số 145-2024 ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V.

    Ông Nguyễn Văn T có quyền đến cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.828m² đất lúa tại một phần thửa 500 tờ bản đồ số 2 nêu trên theo quy định của pháp luật.

    Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được xác lập quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.

  5. Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 57.582.000 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm tám mươi hai nghìn đồng).

  6. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền 7.813.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ phải chịu toàn bộ. Nên ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 7.813.000 đồng (Bảy triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).

  7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    1. Buộc ông Nguyễn Văn T phải nộp 2.879.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước. Chuyển 1.688.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 01/7/2024 theo Biên lai 0002684 và 1.191.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 24/9/2024 theo Biên lai 0002749 sang tiền án phí. H1 lại cho ông Nguyễn Văn T 1.688.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 24/9/2024 theo biên lai 0002749.

    2. Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Vĩnh Hưng ngày 04/9/2024 theo Biên lai 0002736 sang tiền án phí.

  9. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002076 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

  10. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. /.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • -VKSND tỉnh Long An;
  • -TAND huyện Đức Hòa;
  • -Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • -Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 106/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger