TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày 28/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuất;
Ông Võ Ngọc Ánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiền– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Luân – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà đối với bị cáo:
Huỳnh Văn C, tên gọi khác: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1987, tại Khánh Hòa;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh L (chết), con bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1958; Có vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1998 (chung sống nhưng không kết hôn) và 01 con chung sinh năm 2017.
Tiền án:
- Bản án số 126/2010/HSST ngày 14/12/2010, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/9/2011, chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự theo quyết định của bản án.
- Bản án số 45/2021/HSST ngày 18/10/2021, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/12/2022, nộp án phí ngày 18/02/2022.
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Bản án số 37/2007/HSST ngày 10/8/2007, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 04 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2007, đã đóng án phí ngày 29/9/2008.
- Ngày 18/11/2009, Công an xã Đ, huyện V xử phạt 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã từ ngày 17/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Anh Martin Francois Piere G, sinh năm: 2001; Quốc tịch: Pháp; Địa chỉ: Allee S, S - N, Pháp; Nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: A N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vắng mặt.
- Anh Titoun Thomas Hugo A, sinh năm: 2001; Quốc tịch: Pháp; Địa chỉ: F R, B -Sur- O, 91220, Pháp; Nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: A N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn P, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ Dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Anh Trương Hữu T1, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Anh Đinh Ngô Huy H, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Dương Tấn N1, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Anh Trương Quốc D, sinh năm: 2001; Địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Trần Quốc L1, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1958; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, Huỳnh Văn C (tên gọi khác là Nguyễn Văn C1) điều khiển xe mô tô BKS 79V1-173.38 đi đến khu vực B thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thấy có một lều cắm trại nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Chính đến tiếp cận thấy lều mở cửa, bên trong có 02 người đàn ông ngoại quốc là M (sinh năm: 2001; Quốc tịch: Pháp, địa chỉ: Allee S, S - N, Pháp) và Titoun Thomas Hugo A (sinh năm: 2001; Quốc tịch: Pháp, địa chỉ: F Rue C, B - S – Orge, 91220, Pháp) đang ngủ. Chính thò tay vào trong lều lấy một túi da màu nâu, một ví màu đen và một điện thoại di động IPHONE 11 màu trắng rồi bỏ đi. Sau đó, C1 đem tài sản trộm cắp được ra bờ cát mở túi da màu nâu và ví màu đen lấy bên trong một điện thoại di động IPHONE 8 và tiền mặt bỏ vào túi. Các tài sản còn lại gồm: 01 túi da màu nâu, 01 ví da màu đồng, 01 đồng hồ đeo tay, 01 ví da màu đen và một số giấy tờ cá nhân thì giấu xuống dưới cát. Chính đi về nhà tại thôn T, xã Đ, huyện V kiểm đếm thấy tổng số tiền trộm cắp được là 8.500.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau).
Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, C1 mang hai điện thoại trộm cắp được vào tiệm Đ ở xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa do anh Đặng Văn P làm chủ, gặp nhân viên Trương Hữu T1 bán điện thoại IPHONE 11 cho Thích với số tiền 500.000 đồng và tiếp tục đi đến tiệm mua bán xe máy cũ Hoàng N2 ở xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa do anh Đinh Ngô Huy H làm chủ gặp nhân viên Dương Tấn N1 bán xe mô tô BKS 79V1- 173.38 cho N1 với giá 13.400.000 đồng và dùng số tiền 3.600.000 đồng vừa trộm cắp được bù thêm để mua lại xe mô tô BKS 79H1-704.85, loại WINNER, với giá 17.000.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi C1 đang điều khiển xe mô tô 79H1-704.85 đi đến khu vực thị trấn V thì bị Cơ quan Công an phát hiện đưa về trụ sở làm việc cùng tang vật là điện thoại di động Iphone 8 và số tiền còn lại là 5.400.000 đồng. Tại cơ quan Công an, C1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.
Cơ quan điều tra đưa Huỳnh Văn C đi xác định địa điểm và thu hồi toàn bộ các vật chứng liên quan đến vụ án. Riêng 2 sim điện thoại C tháo vứt lại dọc đường (không thu hồi được).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 532/KL-TCKH.TTHS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, Model: IPHONE 11, màu trắng, số máy: MHDC3F/A, Số seri: DX3G77HFN763, dung lượng: 64 GB; Số Imei 1: 358989495720932, số Imei 2: 358989495534721 có giá trị là 4.995.000 đồng (Bốn triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- 01 (một) sim điện thoại mạng Mobifone số thuê bao: 0931440286, có giá trị là 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, Model: IPHONE 8, màu đen, số máy: NQ7X2LL/A, số seri: GGLYLONLJC6N, dung lượng: 256 GB, số Imei: 354898098854358 có giá trị là 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
- 01 (một) sim điện thoại mạng VNSKY số thuê bao: 0777380931 có giá trị là 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
- 01 (một) túi da màu nâu, có quai đeo bằng vải dù, túi KT (23x15) cm, bề mặt có dòng chữ “EASTPAK” có giá trị là 395.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- 01 (một) ví da màu đồng KT (9,5x07) cm, bề mặt in chìm dòng chữ “Hunterson” có giá trị là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
- 01 (một) đồng hồ đeo tay có khắc dòng chữ Ralph Christian RC1125S-M ở mặt dưới, mặt kính màu trắng, dây đeo bằng cao su màu đen có giá trị là 5.565.000 đồng (Năm triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
- 01 (một) cái ví bằng da màu đen KT (11x8,5) cm, bề mặt có in chìm dòng chữ ARTHUR & ASTON có giá trị là 345.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản nêu trên là 12.650.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Sau khi phạm tội, Huỳnh Văn C đi khỏi địa phương, đến ngày 17/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Khánh Hòa bắt theo Quyết định truy nã.
Huỳnh Văn C có bố mẹ ruột là ông Nguyễn Thanh L (sinh năm 1960 đã chết) và bà Huỳnh Thị T (sinh năm 1958, cùng trú: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Khánh Hòa) không đăng ký kết hôn nên không làm giấy khai sinh cho C, tên khác Nguyễn Văn C1 là do ông L, bà T đặt theo họ của ông L. Vì vậy, C1 không có giấy khai sinh và giấy tờ tuỳ thân, lớn lên không được đi học, không biết chữ.
Ngày 07/6/2024, bà Huỳnh Thị T đến Ủy ban nhân dân xã Đ để đăng ký khai sinh cho Nguyễn Văn C1 với tên là Huỳnh Văn C (sinh ngày 21/01/1987) lấy theo họ của bà T. Chính được cấp mã định danh cá nhân số: [...] và mang tên là Huỳnh Văn C.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Khánh Hòa chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K để điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKSKH-P1 ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, truy tố bị cáo Huỳnh Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Huỳnh Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù.
Bị cáo Huỳnh Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, xét thấy những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo cáo trạng truy tố cho thấy, tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, tại khu vực B thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Huỳnh Văn C có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 kèm theo 01 (một) sim điện thoại mạng Mobifone số thuê bao 0931440286, 01 (một) ví da màu đen có tổng giá trị là 5.380.000 đồng và số tiền 2.000.000 đồng của ông Titoun Thomas Hugo A (quốc tịch Pháp); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 8 kèm 01 (một) sim điện thoại mạng VNSKY số thuê bao 0777380931, 01 (một) túi da màu nâu, 01 (một) ví da màu đồng, 01 (một) đồng hồ đeo tay có khắc dòng chữ Ralph Chiristian RC1125S-M có tổng giá trị là 7.270.000 đồng và số tiền 6.500.000 đồng của ông Martin Francois Piere G (quốc tịch Pháp). Tổng giá trị tài sản mà Huỳnh Văn C trộm cắp là 21.150.000 đồng (Hai mươi mốt triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do coi thường pháp luật, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có hai tiền án chưa được xóa án tích và một bản án đã được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo cần áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên bị cáo ở mức vừa phải của khung hình phạt cũng đảm bảo mục đích của hình phạt, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và đủ tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với Đặng Văn P, Trương Hữu T1 là người mua điện thoại di động hiệu Iphone 11 nhưng P và T1 không biết đây là tài sản do Huỳnh Văn C trộm cắp mà có nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự.
Đối với Đinh Ngô Huy H và Dương Tấn N1 đã bán xe mô tô BKS 79H1-704.85 cho Huỳnh Văn C nhưng H và N1 không biết C sử dụng tiền trộm cắp được để mua xe mô tô nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu xanh, biển số 79V1-173.38, có số khung: 5110DY344671, số máy: 55C1344688 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe và máy); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006218 do Công an huyện V cấp ngày 17/11/2015 mang tên Trần Quốc L1 (bản chính), đây là phương tiện mà bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn C (tên gọi khác là Nguyễn Văn C1).
[2] Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn C (tên gọi khác là Nguyễn Văn C1) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày 17/8/2024.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[4] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu xanh, biển số 79V1-173.38, có số khung: 5110DY344671, số máy: 55C1344688 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe và máy); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006218 do Công an huyện V cấp ngày 17/11/2015 mang tên Trần Quốc L1 (bản chính).
Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
[5] Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Liễu |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn Chính trộm cắp tài sản
