Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH


Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày 12-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Đức Cảnh
Thẩm phánÔng Mai Anh Tuấn
Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Anh Tuấn
Bà Trần Thị Hồng
Ông Phạm Quốc Khánh

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối bị cáo:

Họ và tên: Lưu Tuấn T. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1987; Nơi thường trú: Tổ E, khu A, phường H, TP H, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Phòng PC08 Công an tỉnh Q, xuất ngũ ra khỏi lực lượng Công an ngày 26-9-2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25-01-2024, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; con ông: Lưu Quốc T1, sinh năm 1956; con bà: Đỗ Thị T2, sinh năm 1960; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ: Trương Thị T3, sinh năm 1988 (đã ly hôn); có hai con, con

lớn sinh năm 2013; con nhỏ sinh năm 2015. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31-5-2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.

* Người bào chữa cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 76 BLTTHS: Bà Nguyễn Thị O - Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh N.

* Bị hại: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1995;
  2. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987;
  3. Ông Lê Ngọc T5, sinh năm 1957;
  4. Ông Trương Quang T6, sinh năm 1957;
  5. Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1972.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo Lưu Tuấn T, người bào chữa; vắng mặt bị hại và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2015, ông Vũ Văn H có nguyện vọng muốn xin cho con trai là Vũ Văn H1, sinh năm 1995 đã tốt nghiệp trung học phổ thông vào biên chế trong ngành công an. Do có mối quan hệ quen biết với anh Nguyễn Văn T4 trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (là Trưởng công an xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa) nên ông H đã nhờ anh T4 giúp đỡ. Anh T4 giới thiệu cho ông H biết Lưu Tuấn T – khi đó là cán bộ Phòng C, Công an tỉnh Q. Anh T4 giới thiệu Lưu Tuấn T là bạn học cùng lớp trung học cảnh sát với anh T4, đang công tác trong ngành công an và có quan hệ quen biết với lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ C1, có khả năng xin biên chế vào ngành công an cho con trai ông H. Ông H đồng ý. Đến ngày 10-6-2015, ông H cùng anh T4 và ông Lê Ngọc T5 (là anh vợ ông H, nguyên cán bộ công an huyện V, tỉnh Thanh Hóa) đi đến nhà bố vợ của T là ông Trương Quang T6 ở tại T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với T. Qua trao đổi T đồng ý sẽ xin cho anh Vũ Văn H1 vào biên chế vào ngành công an, ban đầu T sẽ xin cho H1 đi nghĩa vụ tại Công an tỉnh H trong thời gian từ 02-03 năm trước, sau khi đi nghĩa vụ xong, T sẽ lo chuyển biên chế

vào ngành công an cho H1, với tổng chi phí cho việc đi nghĩa vụ và xin chuyển biên chế là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), ông H đồng ý.

Ngày 20-6-2015, ông H đã đưa cho Lưu Tuấn T số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) tại nhà bố mẹ vợ T tại xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn T4, ông Lê Ngọc T5. Sau khi nhận tiền xong, T đã viết một “Giấy vay tiền” đề ngày 20-6-2015 với nội dung “T vay số tiền 300.000.000 đồng của ông H, hứa đến tháng 10-2015 sẽ trả số tiền trên cho ông H”. T viết nội dung trong giấy biên nhận là vay tiền của ông H vì T biết việc xin biến chế vào ngành công an là không đúng quy định của pháp luật. Sau đó, ông H đã làm các thủ tục cắt hộ khẩu cho anh Vũ Văn H1 tại Thanh Hóa để T đã nhờ một người bạn quen biết xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) làm các thủ tục nhập hộ khẩu cho anh Vũ Văn H1 tại thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Sau đó, ông H đã dẫn anh Vũ Văn H1 đi làm hồ sơ, khám tuyển và các thủ tục để đăng ký đi nghĩa vụ tại Công an tại tỉnh Hưng Yên. T không liên hệ nhờ ai hay đưa tiền cho bất kỳ ai để xin đi nghĩa vụ công an cho anh Vũ Văn H1. Số tiền 300.000.000₫ T nhận của ông H, T đã sử dụng chi tiêu cá nhân. Đến ngày 10-9-2015, anh Vũ Văn H1 đã trúng tuyển đi nghĩa vụ công an tại Trại tạm giam công an tỉnh H. Đến ngày 10-9-2018, anh Vũ Văn H1 nhận Quyết định xuất ngũ và không được chuyển biên chế vào ngành công an như T hứa hẹn nên ông H đã liên hệ và hẹn gặp T, sau đó đi cùng anh Vũ Văn H1, anh T4 gặp 2 vợ chồng T tại thành phố H tỉnh Quảng Ninh để hỏi T tại sao con ông H không được biên chế vào ngành Công an như T đã hứa hẹn. Do cần tiền tiêu xài cá nhân, T tiếp tục gian dối nói với ông Hiển hiện giờ việc chuyển biên chế rất khó, nên ông H phải đưa thêm cho T số tiền là 400.000.000 (bốn trăm triệu đồng), ông H đồng ý. Từ tháng 9-2018 đến năm 2019, ông H đã chuyển cho T tổng số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) cụ thể như sau:

Ông H đã đưa cho Lưu Tuấn T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tại nhà bố mẹ vợ T tại xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn T4, chị Hoàng Thị H2 (là em dâu ông H) trú tại: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Việc giao nhận tiền không viết giấy biên nhận.

Ông H đã đưa cho Lưu Tuấn T số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) tại nhà bố mẹ vợ T tại xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của chị Hoàng Thị H2, sinh năm: 1972, trú tại: Thôn T, xã N,

huyện V, tỉnh Thanh Hóa (là em dâu ông H). Việc giao nhận tiền không viết giấy biên nhận.

Ngày 24-7-2018, ông H đã chuyển số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) vào số tài khoản “44010000428502” tại ngân hàng B, chủ tài khoản mang tên Lưu Tuấn T.

Sau khi nhận 400.000.000 đồng của ông H, T không liên hệ nhờ ai hay đưa tiền cho bất kỳ ai để xin biên chế công an cho anh Vũ Văn H1 mà sử dụng tiền tiêu sài cá nhân hết, khi ông H liên lạc để hỏi thì T gian dối là đã đưa tiền cho một người tên “Giám” là người có chức vụ to và phải chờ một thời gian. Thực tế không có người nào tên là G mà do T tự nghĩ ra. Ngày 28-01-2020, T đến trực tiếp nhà ông H, tại đây T đã viết 01 “Giấy nhận tiền” với nội dung “anh T mượn ông H số tiền 400.000.000 đồng và hẹn đến ngày 28-4-2020 T sẽ trả”. Đồng thời T cam kết trong tháng 4 năm 2020 sẽ xin xong biên chế ngành công an cho anh Vũ Văn H1. Tuy nhiên đến hẹn T vẫn không xin được biên chế vào ngành công an cho con trai ông H, nên tháng 7-2020 ông H đã hẹn và gặp T tại TP ., tỉnh Quảng Ninh để yêu cầu T trả lại số tiền 700.000.000 đồng. Ông Vũ Văn H đã phô tô giấy nhận tiền đề ngày 28-01-2020 và đưa cho T, T đã viết thêm vào bên dưới giấy nhận tiền này đề ngày 11-7-2020 hẹn sẽ trả lại trước cho ông H số tiền 400.000.000 đồng vào ngày 17-7-2020. Tuy nhiên đến hẹn T vẫn chưa trả số tiền nào cho ông H, cố tình trốn tránh, cắt liên lạc nên ông H đã làm đơn trình báo sự việc như trên với Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh Q.

Ngày 17-9-2020, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh Q chuyển đơn tố giác của ông Vũ Văn H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh N để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, ông Vũ Văn H đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT 3 giấy biên nhận vay tiền do Lưu Tuấn T viết và ký tên; 19 file ghi âm cuộc nói chuyện của ông H, T, T4. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định, các tài liệu, vật chứng này.

Tại Bản kết luận giám định số 1097/KLHS ngày 19-11-2024 kết luận: Chữ ký, chữ viết trên các Giấy biên nhận vay tiền, nhận tiền đề ngày 20-6-2015, ngày 11-7-2020 và ngày 28-01-2020 do ông Vũ Văn H giao nộp, kết quả: Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu nêu trên so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lưu Tuấn T trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.

Tại bản kết luận giám định số 4318/KL – KTHS ngày 24-9-2024 của V - Bộ C1 giám định âm thanh, dữ liệu kỹ thuật số điện tử đối với 19 file âm thanh do ông Vũ Văn H giao nộp, kết quả:

  • Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file âm thanh mẫu cần giám định.
  • Tiếng nói của người đàn ông (được ký hiệu lần lượt là “Hiển” “T” “T4” trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) trong các file âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của Vũ Văn H, Lưu Tuấn T, Nguyễn Văn T4 trong mẫu so sánh là của cùng một người. Trong File ghi âm thể hiện nội dung sau khi nhận tiền của gia đình ông H, T đã hứa hẹn nhiều lần để xin Biên chế cho con trai ông H nhưng vẫn không được.

Tại Cơ quan điều tra, Lưu Tuấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Vật chứng chuyển Cục THADS tỉnh N:

  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen đã cũ, số IMEI: 351588820134087 thu giữ của Lưu Tuấn T.

Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án:

  • 19 file âm thanh do ông Vũ Văn H giao nộp, các file ghi âm giọng nói của Vũ Văn H, Lưu Tuấn T, Nguyễn Văn T4, sau khi giám định xong được V - Bộ C1 niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín, tại mép dán kín của phong bì có chữ ký của các thành phần và dấu tròn đỏ của V - Bộ C1, chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ truy tố, xét xử.Trong File ghi âm thể hiện nội dung sau khi nhận tiền của gia đình ông H, T đã hứa hẹn nhiều lần để xin biên chế cho con trai ông H nhưng vẫn không được.

Trách nhiệm dân sự: T và gia đình đã nhiều lần trả tiền cho ông H. Ngày 19-9-2024, ông Vũ Văn H đã viết giấy biên nhận, nhận đủ tổng số tiền 700.000.000 đồng của gia đình T.

Cáo trạng số 562/CT-VKS-P3 ngày 18-10-2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Lưu Tuấn T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Tuấn T trình bày: Bị cáo Lưu Tuấn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và

trình bày rất hối hận về hành vi bị cáo đã gây ra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và gửi lời xin lỗi bị hại. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về đoàn tụ với gia đình và xã hội.

Bị hại ông Vũ Văn H vắng mặt nhưng trình bày tại quá trình điều tra và xác nhận. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, gia đình bị cáo cũng đã khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi bị cáo gây ra. Bị hại xác nhận gia đình đã nhận được tổng số tiền bồi thường mà bị cáo đã chiếm đoạt là 700.000.000 đồng. Gia đình không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định thực hành quyền công tố trình bày luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Tuấn T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g, c khoản 1 Điều 52; điểm b, s, v khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lưu Tuấn T từ 12 năm 6 tháng đến 13 năm tù;

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Lưu Tuấn T đã bồi thường cho bị hại đủ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 700.000.000 đồng từ hành vi phạm tội của bị cáo. Đến nay bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017 để xử lý vật chứng. Xét 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen đã cũ, số IMEI: 351588820134087 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tuyên trả lại cho bị cáo Lưu Tuấn T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Nhất trí với quan điểm mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề xuất về tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, nhất trí về việc miễn hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng thu giữ của bị cáo.

Đối với hình phạt chính: Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại và bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bản thân bị cáo được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Bố đẻ bị cáo là người được tặng thưởng nhiều huy chương chiến sĩ vẻ vang. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập, có trong hồ sơ của vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị hại. HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2018, tuy không có chức năng, nhiệm vụ và không có khả năng xin vào biên chế của ngành Công an. Lưu Tuấn T đã đưa ra thông tin gian dối là mình có mối quan hệ, có khả năng xin được biên chế vào ngành Công an làm cho ông Vũ Văn H trú tại thôn K, xã N, huyện V, tỉnh Thanh Hóa tin tưởng, chuyển tiền cho Lưu Tuấn T. Lưu Tuấn T đã chiếm đoạt của ông H3 với tổng số tiền 700.000.000 đồng để sử dụng chi tiêu cho bản thân.

Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Lưu Tuấn T đã dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) làm cho bị hại tin đó là thật và giao số tiền 700.000.000 đồng cho bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác mà được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và dư luận xấu trong quần

chúng nhân dân. Bản thân bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang làm tại cơ quan bảo vệ pháp luật và nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và tính nguy hiểm của hành vi do mình thực hiện nhưng do động cơ tư lợi nên vẫn cố ý vi phạm thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Lưu Tuấn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp lý. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo, mỗi lần thực hiện hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bị cáo lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội nên HĐXX áp dụng điểm g, c khoản 1 điều 52 BLHS để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi lừa đảo. Ngoài ra, sau khi phạm tội trong vụ án này bị cáo tiếp tục có hành vi phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Ngày 25-01-2024, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Do vậy HĐXX xác định đây là nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lưu Tuấn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. T cùng với gia đình đã bồi thường cho ông Vũ Văn H số tiền 700.000.000 đồng và ông H đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T, bản thân T được Bộ trưởng Bộ C1 chiến sỹ vẻ vang. Ngoài ra, bố đẻ của T là ông Lưu Quốc T1 đã nhiều lần được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang nên HĐXX áp dụng áp dụng điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX quyết định áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm trừng trị đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên cũng cần xem xét, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên có đủ căn cứ pháp lý áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS; quyết định cho bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Như vậy cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn, hối hận đối với hành vi vi phạm pháp luật của bản thân nhưng vẫn đáp ứng công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Sau khi phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định và không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lưu Tuấn T và gia đình đã nhiều lần trả tiền cho ông H. Ngày 19-9-2024, ông Vũ Văn H đã viết giấy biên nhận, nhận đủ tổng số tiền 700.000.000 đồng của gia đình T. Vì vậy, về phần trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Xử lý vật chứng: Vật chứng chuyển Cục THADS tỉnh N bao gồm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen đã cũ, số IMEI: 351588820134087 thu giữ của bị cáo Lưu Tuấn T. Chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án bao gồm 19 file âm thanh do ông Vũ Văn H giao nộp, các file ghi âm giọng nói của Vũ Văn H, Lưu Tuấn T, Nguyễn Văn T4, sau khi giám định xong được V - Bộ C1 niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín, tại mép dán kín của phong bì có chữ ký của các thành phần và dấu tròn đỏ của V - Bộ C1, chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ truy tố, xét xử. Trong File ghi âm thể hiện nội dung sau khi nhận tiền của gia đình ông H, T đã hứa hẹn nhiều lần để xin biên chế cho con trai ông H nhưng vẫn không được. Đây là tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.

[8] Những vấn đề liên quan đến vụ án: Đối với hành vi của Nguyễn Văn T4 là người giới thiệu Lưu Tuấn T cho ông H để xin cho anh Vũ Văn H1 biên chế ngành công an, T4 vì tin tưởng T có quan hệ rộng có khả năng xin được biên chế cho con ông H nên đã giới thiệu T cho ông H, ngoài ra anh T4 cũng không được hưởng lợi ích gì từ số tiền chiếm đoạt của T. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý đối với Nguyễn Văn T4 là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo Lưu Tuấn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lưu Tuấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, c khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 BLHS.

Xử phạt bị cáo Lưu Tuấn T 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31-5-2024.

  1. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lưu Tuấn T.
  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS. Trả lại cho bị cáo Lưu Tuấn T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen đã cũ, số IMEI: 351588820134087 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án 19 file âm thanh.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận tài sản thi hành án số 25/01 ngày 21-10-2024 giữa Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lưu Tuấn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Báo bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND-VKSND Cấp cao;
  • - VKND-CA tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Đức Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Tuấn T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger