|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày: 12/12/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Xuân Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Vũ Thanh Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị Hồng T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh ngày: 28/6/1985, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Dương Xuân T1 và Phạm Thị T2; chồng: Hoàng Xuân V, con: 03 con; tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2024 đến ngày 11/11/2024 thì được trả tự do, áp dụng "Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 11/11/2024 đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua pháo nổ để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán năm 2025 nên chiều ngày 08/11/2024, Dương Thị Hồng T đi đến khu vực chợ S1, thuộc địa phận xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi: “Có biết chỗ nào bán pháo không?”, người đàn ông hỏi lại T: “Muốn mua loại pháo gì?”, T trả lời: “Muốn mua 05 cối pháo loại 36 quả/cối”. Người đàn ông đó hỏi tiếp: “Nhà ở đâu, tối nay sẽ đưa pháo đến nhà giao và lấy tiền với giá 800.000 đồng/cối”, T đồng ý
và nói với người đàn ông: “Nhà tôi có tạp hóa tên Thắm V1 trên đường Đ, thuộc xóm T, xã N, huyện N”. Sau đó, người đàn ông hẹn T khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/11/2024 sẽ đến nhà T giao pháo và lấy tiền. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, T nghe có tiếng người gọi ở ngoài cổng thì đi bộ ra và nhìn thấy người đàn ông (đã gặp ở chợ S) đang đứng bên cạnh chiếc xe máy ở bên đường. Người đàn ông đó đưa cho T 01 (một) thùng cát tông màu vàng, T mở ra kiểm tra thấy bên trong có 05 (năm) cối pháo nên đã đưa cho người đàn ông số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Nhận tiền xong, người đàn ông để lại thùng cát tông bên trong có 05 (năm) cối pháo bên lề đường rồi điều khiển xe máy đi về. Sau khi người đàn ông đi về, T cất giấu số pháo vào trong bụi cây bên đường trước cổng nhà. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày 08/11/2024, T đi ra lấy số pháo trên đưa vào nhà cất giấu thì bị Tổ công tác Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số pháo nêu trên.
Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N lập ngày 08/11/2024 xác định: 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật thu giữ của Dương Thị Hồng T có tổng khối lượng là 6,2 kg (sáu phẩy hai kilôgam) gồm: 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật đều có hình dạng kích thước giống nhau, kích thước mỗi khối (15x15x12)cm, khối lượng 1,3kg/khối, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, có ký hiệu “C0833” và 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật đều có hình dạng kích thước giống nhau, kích thước mỗi khối (15x15x10)cm, khối lượng 1,2kg/khối, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, có ký hiệu “4036”. Hội đồng đã lấy 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15x15x12)cm, khối lượng 1,3 kg (một phẩy ba kilôgam), bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, có ký hiệu “C0833” (ký hiệu M1) và 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15x15x10)cm, khối lượng 1,2 kg (một phẩy hai kilôgam), bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, có ký hiệu “4036 (ký hiệu M2) gửi đi giám định. Còn lại 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 3,7kg (ba phẩy bảy kilôgam) được niêm phong lại, bảo quản tại Kho vật chứng theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 399/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 13/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu vật (ký hiệu M1 và M2) thu giữ của Dương Thị Hồng T gửi tới giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ”.
Vật chứng: 01 (một) bì gai màu vàng, bên trong có chứa 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 3,7kg (ba phẩy bảy kilôgam) gồm: 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, có ký hiệu “C0833” và 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật có hình dạng kích thước giống nhau, kích thước mỗi khối (15x15x10)cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, có ký hiệu “4036” (là số pháo
nổ còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định), hiện được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện N, tỉnh Nghệ An chờ xử lý.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-NL ng ày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố Dương Thị Hồng T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Dương Thị Hồng T từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định đã thu giữ của Dương Thị Hồng T, vì là đây chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ và tiêu hủy bao bì đựng số pháo trên vì không còn giá trị sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ hàng cấm” là đúng người, đúng tội, bị cáo thật sự rất hối hận và không có khai nại gì khác, xin được xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Dương Thị Hồng T đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản Quyết định truy tố đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, được lập vào ngày 08/11/2024, phù hợp với vật chứng, lời khai của người chứng kiến cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 20 giờ 25 phút, ngày 08/11/2024, tại địa phận xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác Công an huyện N, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang Dương Thị Hồng T đang có hành vi tàng trữ 6,2 kg (Sáu phẩy hai kilôgam) pháo nổ nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi của bị cáo Dương Thị Hồng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự trị an công cộng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về pháo nổ; làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để có tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố, mẹ đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy Dương Thị Hồng T là người có nhân thân tốt, bị cáo tàng trữ pháo nổ với khối lượng nhỏ (6,2kg), hiện đang buôn bán tại địa phương để nuôi 03 con nhỏ, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có khả năng tự cải tạo, tu sửa bản thân nên chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt tiền bằng mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tại phiên tòa là phù hợp và có cơ sở.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông đã bán pháo nổ cho Dương Thị Hồng T, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý nên không xem xét.
[7] Về vật chứng:
- Đối với số pháo còn lại sau khi giám định là vật nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy và vỏ bao bì đựng vật chứng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị Hồng T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Dương Thị Hồng T: 50.000.000 đ (Năm mươi triệu đồng) Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có kí hiệu “C0833” và 02 (hai) khối hình hộp hình chữ nhật, có kích thước (15x15x10)cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có ký hiệu “4036”. Tất cả 03 khối hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng 3,7 kg và được niêm phong trong 01 bì gai màu vàng.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện N theo Phiếu nhập kho vật chứng số 63/LNK-HS ngày 11/11/2024.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Dương Thị Hồng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hồng Vân |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Thắm tàng trữ hàng cấm
