TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày: 13 - 11 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Chiếm.
Ông Phạm Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh Đ, sinh năm: 1997; tại: Long An; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An; Tiền án: 02; Ngày 04/3/2020, bị TAND huyện Thạnh Hóa tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/3/2021); Ngày 25/3/2022, bị TAND thành phố Tân An tuyên phạt 02 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù 29/9/2023); Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 15/7/2015, bị Công an xã M, huyện T xử phạt 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 18/3/2016, bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Long An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 26/9/2016, bị TAND huyện Thủ Thừa tuyên phạt 03 năm tù giam về tội cướp giật tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù 16/9/2018); Ngày 05/3/2019, bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Long An xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 14/3/2019, bị U. thành phố T xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 18/4/2019, bị UBND xã M, huyện T, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng (Chấp hành xong ngày 18/7/2019; Quan hệ và hoàn cảnh gia đình: Cha: Lê Hoàng N, sinh năm: 1974; Mẹ: Lê Thị H, sinh năm: 1980; Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có hai người con, lớn nhất sinh năm: 1997, nhỏ nhất sinh năm: 2003. Bị cáo chưa có vợ con; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Họ và tên: Đặng Hoài S; Sinh năm: 1995; tại: Long An; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Bi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An; Tiền án, tiền sự: Không; Quan hệ và hoàn cảnh gia đình: Cha: Đặng Luân V (Đã chết); Mẹ: Kiều Thị Ánh T, sinh năm: 1974; Vợ: Huỳnh Thị Mỹ H1, sinh năm: 2000; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm: 2018, nhỏ nhất sinh năm: 2021; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Họ và tên: Phạm Hoàng S1, sinh năm: 1993; tại: Long An; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Dồi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An; Tiền án: 02; Ngày 11/9/2019, bị TAND thành phố Tân An tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù 12/12/2020); Ngày 23/12/2022, bị TAND thành phố Tân An tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù 03/02/2024); Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 14/9/2011, bị TAND thành phố Tân An tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù treo thời gian thử thách 01 năm 03 tháng về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt); Ngày 30/6/2015, bị TAND huyện Thủ Thừa tuyên phạt 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù); Quan hệ và hoàn cảnh gia đình: Cha: Phạm Chí T1 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm: 1967; Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có hai người con, lớn nhất sinh năm: 1993, nhỏ nhất sinh năm: 1995; Vợ: Huỳnh Thị Mộng N1, sinh năm: 1997; Con: Phạm Huỳnh Hoàng K, sinh năm: 2018; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Hà Tấn P, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số C ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Lê Thị Như L, sinh năm 2000 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An.
Anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Anh Bùi Thanh T3, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
- Người làm chứng: Nguyễn Thanh H3 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 06/6/2024 bị cáo Lê Thanh Đ đi bộ từ hướng huyện T đến ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An, khi đi ngang qua nhà của anh Hà Tấn P, địa chỉ: số C ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An thì phát hiện một xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42 của anh P đang dựng trong sân nhà, đầu xe hướng vào trong nhà, trên xe có để sẵn chìa khoá, không có người trông coi. Lúc này bị cáo Đ nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên nên đi vào trong sân nhà lén lút dẫn xe mô tô ra khỏi nhà và chạy về hướng huyện T, tỉnh Long An. Trên đường tẩu thoát, bị cáo Đ điện thoại cho bị cáo Phạm Hoàng S1 nói vừa trộm được 01 xe mô tô Air Blade và nhờ S1 chỉ giùm chỗ cầm hoặc bán xe. S1 ý thức biết được xe mô tô trên là do Đ trộm cắp, phạm pháp mà có và kêu Đ chạy đến quán C, địa chỉ: Quốc lộ A, ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Khi đến quán bị cáo Đ gặp bị cáo S1, S1 kêu Bùi Thành T4 (là nhân viên phục vụ của quán cà phê PlâyKu) cầm cố chiếc xe cho Đ, S1 và Đ không nói cho T4 biết là xe có nguồn gốc như thế nào, ý thức T4 không biết xe mô tô do Đ phạm pháp mà có. T4 không cầm mà kêu S1 hỏi một người quen khác là bị cáo Đặng Hoài S (lúc này S đang ngồi tại quán) xem S có cầm hay không, sau khi nói chuyện với S1 và Đ thì S ý thức biết được xe mô tô trên là do bị cáo Đ trộm cắp phạm pháp mà có, tại đây Sinh điện thoại cho Nguyễn Đình T2 để hỏi T2 có cầm xe hay không, nhưng T2 không nghe máy. S nói để S chở Đ đến nhà T2 “Nếu được giá thì cầm”. Trước khi đi, Đ hỏi S có biển số xe cũ nào không để mượn gắn vào xe Air Blade vì sợ đi cầm gần nhà sẽ bị mẹ của Đ phát hiện nên S hỏi T4 có biển số xe nào dư không, T4 nói có biển số xe mô tô T4 chạy đi giao hàng 62H1-002.37 nên Sinh lấy biển số 62H1-002.37 gắn vào xe Air Blade, T4 cho mượn biển số ý thức không biết Đ và S đổi biển số để làm gì, còn biển số 62B1-034.42 Sinh để lại trong quán, sau đó S chở Đ đến nhà T2 tại ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Tại nhà T2, S nói với T2 “Bạn em có chiếc xe nhờ anh cầm giùm”, S nói xe Air Blade là xe của mẹ S nhờ T2 cầm vài ngày sẽ chuộc lại, T2 không biết xe mô tô trên do phạm pháp mà có, do không đủ tiền để cầm xe nên T2 điện thoại cho Lê Thị Như L đến để hùn tiền cầm xe cho S vì trước đây L có nói với T2 đang cần một chiếc xe mô tô để chạy đi làm. Một lúc sau L cùng 01 người bạn tên Nguyễn Thanh H3 đến, T2 nói với L nguồn gốc xe này của mẹ S, kẹt tiền nên cần cầm. L không biết đây là xe do phạm pháp mà có, H3 là người được L nhờ chở giùm đến nhà T2. Sau khi xem xe thì L và T2 đồng ý cầm xe mô tô trên với giá 3.500.000 đồng, L và T2 thống nhất hùn mỗi người 1.750.000 đồng để đưa cho S (chuyển khoản 3.000.000 đồng, đưa tiền mặt 500.000 đồng). Khi về đến quán C, S đi rút tiền được 2.950.000 đồng (bị trừ phí 50.000 đồng) và đưa cho S1 tổng số tiền là 3.450.000 đồng, S1 đưa cho Sinh tiền đổ xăng là 50.000 đồng, còn lại 3.400.000 đồng S1 đưa cho Đ, Đ đưa cho S1 200.000 đồng để trả tiền nước và cho 650.000 đồng để tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại 2.550.000 đồng Đầy cất giữ và đã tiêu xài hết.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Lê Thanh Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Phạm Hoàng S1 và bị cáo Đặng Hoài S thừa nhận ý thức biết được xe mô tô Air Blade do bị cáo Đ phạm pháp mà có được nhưng vẫn đồng ý giúp Đ tiêu thụ để hưởng lợi ích từ Đ, tất cả lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 98/KL-HĐĐG ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, Long An kết luận: Giá trị 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42, đăng ký lần đầu ngày 05/8/2011 tại thời điểm ngày 06/6/2024 là 20.000.000 đồng.
Tang vật bị thu giữ: Một xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42 và một biển số xe 62H1-002.37.
Xử lý vật chứng:
Trả lại cho anh Hà Tấn P một xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42.
Trả lại cho anh Trần Văn L1 một biển số xe 62H1-002.37. Qua xác minh biển số thuộc sở hữu của anh L1, vào khoảng tháng 02/2024, khi đang lưu thông trên đường thì anh L1 làm rớt, anh Bùi Thành T4 khi đang đi mua ve chai trên đường thì nhặt được và đem về sử dụng.
Đồ vật, tài liệu chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An tạm giữ chờ xử lý: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hà Tấn P đã nhận lại được xe mô tô Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42, không có yêu cầu gì khác. Những người liên quan Nguyễn Đình T2, Lê Thị Như L không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền đã cầm xe.
Trong quá trình điều tra, truy tố xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, bị cáo Đặng Hoài S có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKSTA-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố để xét xử bị can Lê Thanh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; xét xử bị can Đặng Hoài S về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; xét xử bị can Phạm Hoàng Sơn về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà Lê Thanh Đ gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lê Thanh Đ, mức hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Đặng Hoài S, mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phạm Hoàng S1, mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về vật chứng: Không.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng với bản kết luận về định giá tài sản 98/KL-HĐĐG ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 06/6/2024, tại sân nhà số C ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Lê Thanh Đ đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp một xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42 của anh Hà Tấn P với giá trị tài sản là 20.000.000 đồng, bị cáo Lê Thanh Đ có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm nguy hiểm. Các bị cáo Phạm Hoàng S1 và Đặng Hoài S mặc dù biết nguồn gốc xe Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42 do bị cáo Đ phạm pháp mà có nhưng vẫn đồng ý tìm nơi cầm cố giúp bị cáo Đ để được hưởng lợi ích, bị cáo Phạm Hoàng S1 có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm nguy hiểm.
Quá trình làm việc, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Đặng Hoài S phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Phạm Hoàng S1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản do bị cáo Đ gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố Lê Thanh Đ với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Các bị cáo Phạm Hoàng S1 và Đặng Hoài S mặc dù biết nguồn gốc xe Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42 do bị cáo Đ phạm pháp mà có nhưng vẫn đồng ý tìm nơi cầm cố giúp bị cáo Đ để được hưởng lợi ích, bị cáo Phạm Hoàng S1 có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm nguy hiểm.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng xét về nhân thân, bị cáo Lê Thanh Đ, Phạm Hoàng S1 có tiền án về tội trộm cắp tài sản, tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà tiếp tục phạm tội, nên cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo Đặng Hoài S có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[5] Các tình tiết liên quan khác:
Đối với Bùi Thành T4, ý thức không biết được xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42 là do bị cáo Đ phạm tội mà có, T4 không đồng ý cầm xe, không biết bị cáo S mượn biển số xe sử dụng nhằm mục đích gì, không hưởng lợi ích gì từ việc các bị cáo S1, S tiêu thụ tài sản do bị cáo Đ phạm tội mà có nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Nguyễn Đình T2, ý thức T2 biết nguồn gốc xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 62B1-034.42 là xe của mẹ bị cáo S, S muốn cầm vài ngày sẽ chuộc lại, T2 không biết xe này là do bị cáo Đ phạm pháp mà có nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Lê Thị Như L, khi Nguyễn Đình T2 nói cho L biết xe mô tô trên có người cần cầm thì L đồng ý hùn tiền với T2 để cầm, ý thức L không biết xe này là do bị cáo Đ phạm pháp mà có nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
[6] Về vật chứng: Không.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu nào khác nên không đề cập.
[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo S, S1 đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, các bị cáo Đặng Hoài S, Phạm Hoàng S1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoài S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2024.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng S1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Lê Thanh Đ, Phạm Hoàng S1 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/11/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo Đặng Hoài S 28 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/11/2024) đến hết ngày 10/12/2024 để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về tang vật chứng: không.
Về trách nhiệm dân sự: không.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc Lê Thanh Đ, Đặng Hoài S, Phạm Hoàng S1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tóa án tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Tuyến |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Đầy phạm tội “Trộm cắp tài sản”, các bị cáo Đặng Hoài Sinh, Phạm Hoàng Sơn phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
