|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày 08-11-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyền và bà Lê Thị Thanh Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1974, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Không đi học; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N, sinh năm 1946 và bà Quàng Thị T1, sinh năm 1949; có vợ Lò Thị L, sinh năm 1973, có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bản án số 129/HSST ngày 14/6/2002), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024, tạm giam từ ngày 31/7/2024 cho đến nay, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 50 phút, ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại nhà của Lò Văn T, bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Công an huyện T bắt quả tang Lò Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Lò Văn T 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu hồng (mỗi một mặt các viên nén đều có ký hiệu WY” và 04 (bốn) cục nhỏ màu hồng dạng nén, nghi ma túy tổng hợp.
Ngày 22/7/2024 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: 04 viên nén màu hồng, mỗi một mặt các viên nén đều có ký hiệu “WY” và 04 cục nhỏ màu hồng dạng nén thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng 0,62 gam. Gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 1261/KL-KTHS ngày 29/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn T có khối lượng 0,62 gam là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 22/7/2024 trên đường đi xem ao về tại bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo gặp mua được của một người đàn ông không biết họ, tên, địa chỉ, khoảng 24 tuổi 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 04 viên nén màu hồng (mỗi một mặt có chữ “WY”) và 04 cục nhỏ màu hồng dạng nén đều là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) với giá 50.000đồng; việc mua bán chỉ có bị cáo và người đàn ông đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được ma túy bị cáo cất vào túi quần đùi bên trái đang mặc đi bộ về nhà. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ngồi trong nhà thì tổ công tác Công an huyện T đến kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số: 146/CT-VKSTG ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,5 gam Methamphetamine còn lại, 01 (một) mảnh nilon màu xanh và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với Cáo trạng truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và là người khuyết tật nặng. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xem xét về hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội, khối lượng ma túy cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất có thể theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; không phạt bổ sung bằng tiền, miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không có ý kiến bổ sung vào lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 14 giờ 50 phút ngày 22/7/2024, tại nhà bị cáo Lò Văn T, bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Lò Văn T bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,62 (không phẩy sáu mươi hai) gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; biên bản khám xét; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi và khối lượng Methamphetamine bị cáo cất giấu trái phép thì bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy, từng bị xét xử về tội phạm ma túy, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội, vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Năm 2002, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bản án số 129/HSST ngày 06/8/2002), đến ngày 30 tháng 8 năm 2005 bị cáo chấp hành xong án phạt, tính đến ngày 22/7/2024 bị cáo phạm tội mới đã được xóa án tích. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, là người khuyết tật nặng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, bị cáo là người nghiện ma túy và từng bị xét xử về tội phạm ma túy, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo, giúp bị cáo cai nghiện ma túy và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa về hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,5 gam Methamphetamine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh nilon màu xanh, 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo là vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
[7] Án phí: Bị cáo Lò Văn T là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ, đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 22/7/2024. Do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2024.
3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 0,5 (không phẩy năm) gam Methamphetamine.
- 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu xanh và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lò Văn T được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Lò Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 08/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
