Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 106/2024/HSST

Ngày 29 tháng 10 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Thanh, ông Đặng Thiều Quang
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Sinh năm 1992;

Nơi cư trú: thôn T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12;

Bố đẻ: Nguyễn Văn H, sinh năm 1966 (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1968. Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai;

Vợ, con chưa có;

Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

  • Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987 (đã chết)

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
  2. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố Đại Phú 1, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  1. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987 (có mặt)
  2. Cháu Nguyễn Thị Khánh L1, sinh năm 2012 (vắng mặt)
  3. Cháu Nguyễn Nguyên G, sinh năm 2014 (vắng mặt)
  4. Cháu Nguyễn Quang H2, sinh năm 2020 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà L; đại diện theo pháp luật của cháu L1, cháu G, cháu H2: anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

* Người làm chứng:

  • Anh Dương Thế T2, sinh năm 2006 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, trú tại xóm T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông vân tải tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 07/6/2021.

Từ ngày 06/6/2024, Nguyễn Văn T lái xe thuê cho anh trai ruột là Nguyễn Văn D, sinh năm 1989, trú tại xóm T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 19/7/2024, T được anh D giao cho điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 88C - 184.50 (khối lượng toàn bộ theo TK/CP TGGT: 3495/3495) ngồi ở ghế phụ là anh Dương Thế T2, sinh năm 2006, trú tại xóm T, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xuất phát từ huyện P, tỉnh Thái Nguyên chở lợn đi giao cho khách ở xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 11 giờ cùng ngày, sau khi giao hàng xong, T điều khiển xe ô tô đi về đến đoạn đường quốc lộ 37, thuộc địa phận thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Lúc này, T đang điều khiển xe ô tô đi trên phần đường bên phải theo chiều đi hướng xã B, huyện L đi thị trấn K, huyện L (hướng huyện L đi quốc lộ A) thì gặp đoạn đường cong từ phải qua trái theo chiều đi. Khi đi gần hết đoạn đường cong, T nhìn về bên phải, đồng thời nghiêng người sang phải vỗ vào người cháu T2 đang nằm ngủ trên ghế phụ để gọi Thỉnh dậy tìm chỗ ăn cơm, khi quay mặt lại nhìn đường thì xe ô tô đã di chuyển lấn sang phần đường bên trái, đồng thời T thấy có một xe mô tô đi cùng chiều ở ngay phía trước bên phải đầu xe nên đã đánh lái gấp cho xe ô tô đi tiếp sang trái để tránh, đúng lúc này xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 do chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang đi ngược chiều đến nơi, xe ô tô do T điều khiển đâm vào xe mô tô của chị H1. Sau va chạm T đưa chị H1 đến Bệnh viện G1 ở thị trấn K, huyện L cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng chị H1 đã tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường (BL: 24- 25):

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại Km 42 + 650 quốc lộ C, thuộc địa phận thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được trải áp phan nhựa, thẳng, phẳng, dốc xuống khoảng 30° theo hướng Bắc - Nam, mặt đường rộng 650cm, giữa đường có vạch sơn màu vàng ngắt quãng đều nhau, chia mặt đường thành hai phần đường cho phương tiện di chuyển ngược chiều nhau, mỗi bên rộng 325cm. Lề đường đất hai bên rộng 130cm, hai bên đường là hệ thống mương thoát nước rộng 150cm.

Quá trình khám nghiệm bên phải, bên trái hiện trường tính theo chiều đi của đường quốc lộ 37 theo hướng L đi Quốc lộ A (theo hướng Bắc - Nam). Lấy mép đường trái làm chuẩn. Lấy góc phía Đông Bắc chân cột điện ký hiệu 70B trên lề đường trái, cách mép đường trái về phía Tây 235cm làm điểm mốc.

Trên hiện trường có các dấu vết sau:

  • Xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 đổ nghiêng phải trên lề đường trái và mương nước, đầu xe hướng T, tâm trục bánh trước cách mép đường trái về phía Tây 90cm, tâm trục bánh sau cách mép đường trái về phía Tây 185cm. Ký hiệu (1).
  • Xe ô tô tải biển kiểm soát 88C - 184.50 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng Nam, tâm đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường trái 470cm, cách điểm mốc về phía Đông Nam 850cm; tâm đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường trái 465cm, cách tâm trục bánh trước xe (1) về phía Đông Bắc 4240cm. Ký hiệu (2).
  • Dấu vết cầy bộc đất lề đường trái chiều hướng T - Đ, trên diện kích thước (790x50)cm, rộng vết đơn 06cm; tâm đầu vết cách mép đường trái về phía Tây 10cm, cuối vết kết thúc tại đầu để chân trước bên phải xe (1), cách mép đường trái về phía Tây 130cm. Ký hiệu (3).
  • Dấu vết dầu phun bắn trên mặt đường chiều hướng T - Đ, trên diện kích thước (210x45)cm, tâm đầu vết cách tâm đầu vết (3) về phía Đông Bắc 80cm, cách mép đường trái 40cm, cuối vết kết thúc lửng, tâm cuối vết cách mép đường trái về phía Tây 30cm. Ký hiệu (4).
  • Dấu vết mài trượt mặt đường bám dính vật chất màu đen, chiều hướng T - Đông Nam dạng hai đường thẳng song song, trên diện kích thước (770x30)cm, rộng vết đơn 10cm, tâm đầu vết cách mép đường trái 42cm, cuối vết kết thúc lửng, tâm cuối vết cách mép đường trái 30cm, cách tâm trục bánh trước xe (1) về phía Đông Nam 260cm. Ký hiệu (5).
  • Dấu vết mài trượt mặt đường bám dính vật chất màu đen, chiều hướng T - Đông Nam, dạng hai đường thẳng song song trên diện kích thước (670x30)cm, rộng vết đơn 10cm, tâm đầu vết cách mép đường trái về phía Đông 172cm, cách tâm đầu vết (5) về phía Đông Bắc 175cm, cuối vết kết thúc lửng, tâm cuối vết cách mép đường trái 160cm. Ký hiệu (6).
  • Dấu vết dập nát cây cỏ dại trên khu đất bỏ hoang trên diện kích thước (340x190) cm, tâm đầu vết cách mép đường trái về phía Tây 350cm, cách tâm trục bánh sau xe (1) về phía T 200cm, tâm cuối vết cách mép đường trái về phía Tây 480cm. Ký hiệu (7).

Kết thúc khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra tạm giữ các đồ vật, tài sản, gồm: 01 xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50; 01 chứng nhận đăng ký; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Văn T; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98K5 – 3955, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thị H1. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành xét nghiệm chất ma túy và kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Văn T. Kết quả, T không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy. (BL: 131-132)

Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 (BL 57-58)

Gãy khuyết một phần bên trái ốp nhựa ba đờ sốc, phần còn lại có dấu vết mài sát sơn, nhựa, bề mặt bám dính vật chất màu đỏ, dạng sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (24,5x30)cm, tâm vết cách đất 54cm, lộ hệ thống khung kim loại phía trong. Phần khung kim loại phía trong có vết mài sát, cong vênh kim loại, bám dính vật chất màu đỏ dạng sơn, kích thước (34x17,5)cm, tâm vết cách đất 72cm. T3 sắt si phía trước: Đầu bên trái thanh sắt si có dấu vết bẹp lõm, mài sát sơn, kim loại, kích thước (5,5x4)cm, tâm vết cách đất 39cm. Vỡ khuyết ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bên trái, phần còn lại có dấu vết mài sát, bám dính vật chất màu xanh, đỏ dạng sơn, kích thước (33x33)cm, tâm vết cách đất 84,5cm. Ốp kim loại phía trước đầu xe bị bẹp lõm 1/3 bên trái, bề mặt bám dính vật chất màu đỏ dạng sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (50x38,2)cm, tâm vết cách đất 102cm. Ốp kim loại góc phía trước bên trái ca bin bị cong gập theo hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính vật chất màu đỏ dạng sơn, kích thước (54x15)cm, tâm vết cách đất 100cm. Góc dưới phía trước bên trái đầu xe có dấu vết bẹp lõm, cày xước kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (7,6x16,3)cm, tâm vết cách đất 34,5cm. Dạn vỡ ½ bên trái kính chắn gió phía trước, bề mặt có dấu vết mài sát, bám dính vật chất dạng vải sợi màu đỏ, kích thước (80x60)cm, tâm vết cách đất 105cm. Khung kim loại phía trước bên trái ca bin có dấu vết bẹp lõm, chiều hướng từ trước về sau, tâm vết cách đất 154cm.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98K5-3955 (BL 59-60)

Cung trước chắn bùn bánh trước bị gãy khuyết 1/3 bên trái, phần còn lại có dấu vết mài sát sơn, kim loại, bề mặt bám dính vật chất màu xanh dạng sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (10x8,5)cm, tâm vết cách đất 66,6cm. Dập vỡ ½ bên trái ốp nhựa phía trước đầu xe, bề mặt có dấu vết mài sát sơn nhựa, màu xanh dạng sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (35,8x21)cm. Vỡ khuyết hệ thống đèn chiều sáng, đèn tín hiệu phía trước hai bên. Gãy khuyết hoàn toàn gương chiếu hậu bên trái, cần gương cong vênh theo hướng từ phải sang trái, bề mặt bám dính đất. Mặt trước đầu tay nắm bên trái có vết mài sát kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (3x2,5)cm, tâm vết cách đất 109cm. Gãy khuyết hoàn toàn cánh yếm bên trái, lộ phần ốp nhựa, chi tiết máy phía trong; Mặt trước phần ốp nhựa phía trong có dấu vết mài sát nhựa, ốc vít kim loại, bề mặt bám dính vật chất màu xanh, dạng sơn, kích thước (23x15,5)cm, bám dính vật chất màu đen, kích thước (4x5x6,5)cm, tâm vùng vết cách đất 50cm. Cạnh trước lốc máy bên trái có vết gãy, vỡ kim loại, kích thước (18,5x24)cm, tâm vết cách đất 38cm. Cần số bị cong gập theo chiều từ trước về sau, bề mặt có dấu vết cày xước kim loại, kích thước (2x2)cm. Để chân trước bên trái bị chùn cong theo hướng từ trước về sau, cạnh trước có dấu vết mài sát cao su, kích thước (8x3)cm, tâm vết cách đất 33cm. Cung sau chắn bùn bánh trước bị tỳ nén theo chiều từ phải qua trái. Đầu trục bên trái bánh trước có dấu vết cắt gọt kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (2x1)cm, tâm vết cách đất 29cm. Vỡ khuyết ốp nhựa giảm sóc bên trái bánh trước, bề mặt giảm sóc có dấu vết mài sát kim loại trên diện kích thước (40x5)cm.

Dây phanh bánh trước bị đứt rời, bề mặt vỏ cao su có dấu vết mài sát bám dính vật chất màu xanh dạng sơn, kích thước (23x1)cm. Má lốp bên trái có dấu vết mài sát cao su hướng vào tâm, kích thước (31x6)cm, tâm vết cách chân van theo chiều chuyển động tiến 16cm. Cạnh bên trái vành bánh trước có dấu vết mài sát kim loại, bám dính vật chất màu xanh dạng sơn, kích thước (2x0,8)cm, tâm vết cách chân van ngược chiều chuyển động tiến 104cm. Gãy khuyết gương chiếu hậu phải, đầu tay phanh, tay nắm bên phải có dấu vết mài sát kim loại, toàn bộ hệ thống bên phải bám dính đất.

Kết quả khám nghiệm tử thi nạn nhân Nguyễn Thị H1 (BL 38-39; 49-50):

Nhiều vết rách, sây sát da, sưng nề, bầm tím rải rác nhiều vùng cơ thể. Gãy hai xương cẳng chân trái, gãy kín xương đùi trái, gãy phức tạp xương lồng ngực trái. Chọc hút bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực trái có nhiều máu không đông.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 1697/KLGĐTT-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B về nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H1, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H1 do đa chấn thương: Chấn thương ngực kín, gãy xương đùi và xương cẳng chân trái.

Tại Kết luận giám định số: 1895/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B về cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông, kết luận như sau (BL 87-88):

  • “- Dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước cao su, hướng từ trước ra sau ở chân cần gương chiếu hậu bên trái và đầu tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 (ảnh 24, 25, 26, 27 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau ở ốp kim loại bên trái đầu xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 (ảnh 13, 14 bản ảnh khám phương tiện).
  • Dấu vết vỡ, trượt xước sơn nhựa, hướng từ trước ra sau ở bên trái mặt nạ đầu xe, chắn bùn, cánh yếm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 (ảnh 9, 10, 11, 12 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ, trượt xước sơn nhựa, hướng từ trước ra sau ở cụm đèn trước bên trái và bên trái ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 (ảnh 15, 16, 17 bản ảnh khám phương tiện).
  • Dấu vết vỡ, chùn cong kim loại, hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên ở vỏ máy bên trái, cần số trước và để chân trước của xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 khi xe mô tô trong trạng thái đổ nghiêng phải (ảnh 28, 29, 30, 31 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở bên trái thanh kim loại sắt si trước và cạnh viền ốp kim loại bậc lên xuống cánh cửa bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 (ảnh 19, 20, 21 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  • Dấu vết cày, lõm lề đất ký hiệu 3 phù hợp với quá trình va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 đổ nghiêng phải, bị tỳ đẩy, rê trượt trên lề đất tạo nên.
  • Dấu vết dầu bắn ký hiệu số 4 phù hợp với quá trình va chạm, vỏ máy bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 nứt vỡ, dầu ở bên trong bắn rơi trên mặt đường tạo nên.
  • Dấu vết mài trượt mặt đường màu đen ký hiệu số 5 và số 6 phù hợp với quá trình va chạm, lốp bánh đôi 02 (hai) hàng bánh sau của xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 rê trượt trên mặt đường tạo nên.
  • Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 và xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày, lõm lề đất ký hiệu số 3 và dấu vết dầu bắn ký hiệu số 4, thuộc phần đường bên trái theo hướng huyện L đi quốc lộ A.
  • Căn cứ dấu vết va chạm trên hai phương tiện và trên hiện trường, xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn hai phương tiện trong tư thế đứng, chuyển động ngược chiều.
  • Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học”.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 84/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị các phần hư hỏng của xe ô tô 88C - 184.50 là 20.100.000 đồng; Giá trị các phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 98K5 – 3955 là 23.580.000 đồng (BL: 93-94)

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/7/2024 Nguyễn Văn T đã nhờ Nguyễn Văn D (là anh ruột của T) đến bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Thị Hằng số tiền 400.000.000 đồng để khắc phục hậu quả đã gây ra. Đến nay, gia đình bị hại không yêu cầu T bồi thường gì thêm. (BL: 126- 127).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, không tái phạm.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Nguyễn Văn M không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm phần dân sự và đề nghị HĐXX giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra còn đề nghị về án phí hình sự sơ thẩm, xem xét về quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo thực hiện hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cụ thể: Hồi 11 giờ 05 phút 19/7/2024 tại Km 42 + 650 đường Q, thuộc địa phận thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 do Nguyễn Văn T điều khiển đi hướng từ xã B, huyện L đi thị trấn V, huyện L không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường (Vi phạm các quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ) nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98K5 – 3955 do chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả làm chị H1 tử vong. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và được chứng minh bằng các chứng cứ như: biên bản khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; biên bản, kết luận khám nghiệm tử thi. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Viện kiểm sát nhân huyện L truy tố bị cáo về tội danh, điều luật trên theo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T, HĐXX xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà pháp luật nhà nước ta bảo vệ, gây hậu quả làm chết một người. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; sau khi gây tai nạn đã chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả và được đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 400.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình bị hại là anh Nguyễn Văn M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; không yêu cầu bồi thường thiệt hại về hư hỏng xe mô tô 98K5 - 3955 nên không đặt ra xem xét giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn D không yêu cầu bồi thường thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50 nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5]. Về xử lý vật chứng: Ngày 04/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn D 01 xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô biển kiểm soát 88C - 184.50; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 giấy phép lái xe hạng B2; trả lại cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là đại diện của bị hại) 01 xe mô tô biển kiểm soát 98K5 - 3955, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thị H1.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Các Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/10/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

[2]. Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[3]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Cơ quan THAHS và Cơ quan
  • điều tra - Công an huyện Lạng Giang;
  • - THADS huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo; đại diện hợp pháp của người bị hại;
  • người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 106/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự Sơ Thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cfzsd
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger