|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 106/2024/HSST Ngày 17 - 10 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đình Trúc.
Bà Đỗ Thị Kim Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với các bị cáo:
-
Lê Sĩ T
, sinh ngày 20/10/1968, tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Sỹ T1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ Hoàng Thị H1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 25/9/2007, T bị Công an thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Công an thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc) xử phạt vi phạm hành về hành vi Đánh bạc với mức phạt 1.000.000đ. Ngày 26/9/2007, T đã nộp phạt số tiền trên.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 01/4/2024, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.
-
Nguyễn Anh C
, sinh ngày 15/02/1970, tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A và bà Lê Thị N (đều đã chết); có vợ Trần Lan H2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 1998, bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc thành phố Hà Nội) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc. C khai đã nộp số tiền phạt theo Quyết định xử phạt. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã tiến hành xác minh tại Công an huyện M, TP Hà Nội và Công an T, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả đều xác định: Hiện không còn lưu trữ hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với C.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 01/4/2024, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.
-
Nguyễn Đức H3
, sinh ngày 20/06/1968, tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức L và bà Nguyễn Thị L1 (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị H4 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 01/4/2024, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Sĩ T có quen biết với Nguyễn Anh C, và Nguyễn Đức H3; T, H3 và C thoả thuận nhắn tin điện thoại để đánh bạc với nhau thông qua hình thức mua bán lô, đề của nhau.
T thoả thuận với H3: Giá bán số lô là 22.000đ/1điểm; giá bán số đề người bán chiết khấu 20% cho người mua, chỉ thu 80% trên tổng số tiền mua. Nếu người mua trúng số đề thì được trả gấp 70 lần số tiền mua, nếu trúng số lô thì được trả 80.000đ/01 điểm lô; việc mua, bán số lô, số đề đều qua hình thức nhắn tin điện thoại SMS hoặc nhắn tin Zalo; việc thắng, thua thanh toán tiền trúng thưởng vào ngày hôm sau; kết quả để tính thắng thua dựa trên kết quả sổ xố miền B mở thưởng vào hồi 18h15' hàng ngày. Đối với số đề, dựa vào kết quả của giải đặc biệt, nếu số đề mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì người mua trúng đề, được trả tiền gấp 70 lần số tiền mua số đề; nếu số đề ba càng mua trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt thì người mua trúng đề, được trả gấp 400 lần số tiền mua số đề ba càng đó. Đối với số lô, nếu số lô người chơi mua trùng với 02 số cuối của bất kì giải thưởng nào của kết quả xổ số miền B thì người mua trúng lô, được trả số tiền 80.000đ/01 điểm, nếu số lô mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thì được tính trúng nhiều lần.
T thoả thuận với C: Như Thắng đã thoả thuận với H3 (nhưng do C, T là bạn thân với nhau) nên có khác về chiết khấu lại như sau: Giá bán số lô là 21.700đ/01 điểm, số đề T chiết khấu 28%, chỉ thu 72% tổng số tiền mua. Việc mua bán lô, đề của T, H3, C cụ thể như sau:
-
Hành vi đánh bạc của Nguyễn Đức H3 thông qua việc H3 mua lô, đề của Nguyễn Anh C và Lê Sĩ T:
- Hồi 16 giờ 22 phút ngày 26/3/2024, H3 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xám, bên trong lắp sim số 0839.716.666 đăng ký tên H3 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0878.778.xxx của Nguyễn Anh C, Hải lưu trong danh bạ là “HC” mua số lô, số đề của C, cụ thể: “Đề đau 8 x 150 ngàn 1 số, đau 0 đau 9 x 30 ngàn 1 số, lô 86 x 50 điểm, 88 55 66 x moi số 20 điểm” có nghĩa H3 mua của C các số đề đầu 8 gồm các số: 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 mỗi số 150.000 đồng, tổng = 10 số = 1.500.000 đồng; số đề đầu 0 gồm các số: 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09 mỗi số 30.000 đồng, tổng = 10 số = 300.000 đồng; số đề đầu 9 gồm các số: 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số 30.000 đồng, tổng = 10 số = 300.000 đồng. Tổng số tiền đề H3 mua của C = 2.100.000 đồng; số lô 86 = 50 điểm; các số lô 88, 55, 66 mỗi số = 20 điểm, tổng = 110 điểm x 22.000 đồng/01 điểm = 2.420.000 đồng. Tổng số tiền H3 mua số lô, số đề của C = 4.520.000 đồng (tiền mua số đề = 2.100.000đ, tiền mua số lô = 2.420.000đồng). Sau khi nhận được tin nhắn của H3, C nhắn tin lại là “OK” có nghĩa là C đồng ý bán các số lô, số đề trên cho H3.
- Sau khi nhắn tin mua các số lô, số đề của C, đến hồi 17 giờ 16 phút ngày 26/3/2024, H3 tiếp tục sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xám và vào tài khoản Zalo của mình có tên “ Nguyen Duc Hai” đăng ký bằng số điện thoại 0839.716.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo của Lê Sĩ T, Hải lưu trong điện thoại là “Thắng Anh” để mua số lô, số đề của T, nội dung: “Đề đau 8 x 200 ngàn 1 số, đau 0 đau 9 x 30 ngàn 1 số, lô 88 x 70 điểm, các số lô 75, 88, 55, 66 x mỗi số 25 điểm”, có nghĩa là H3 nhắn tin mua của T các số đề đầu 8 gồm các số: 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 mỗi số = 200.000 đồng, tổng = 10 số = 2.000.000 đồng; số đề đầu 0 gồm các số: 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09 mỗi số = 30.000 đồng, tổng 10 số = 300.000 đồng; số đề đầu 9 gồm các số: 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số = 30.000 đồng, tổng 10 số = 300.000 đồng. Tổng số tiền đề H3 mua của T = 2.600.000 đồng; số lô 88 = 70 điểm; các số lô 75, 88, 55, 66 mỗi số = 25 điểm, tổng H3 mua của T = 170 điểm x 22.000 đồng/01 điểm = 3.740.000 đồng. Tổng tiền H3 mua số lô, số đề của T là 6.340.000 đồng. Sau khi nhận được tin nhắn của H3, T nhắn tin lại cho H3 là “OK” nghĩa là T đồng ý bán các số lô, số đề trên cho H3.
Sau khi H3 nhắn tin mua bán lô, đề của C, T xong thì bị Cơ quan Công an phát hiện (khi chưa có kết quả xổ số miền B) nên tổng số tiền mà H3 đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề ngày 26/3/2024 là 10.860.00đồng (gồm mua của C 4.520.000đồng, mua của T 6.340.000đồng). Các khoản tiền mua lô đề này H3 chưa kịp giao cho C và T thì bị phát hiện. Ngày 16/7/2024, H3 đã tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 10.860.000đ.
-
Hành vi đánh bạc thông qua việc mua bán lô đề của Nguyễn Anh C và Lê Sĩ T:
C sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng, bên trong có lắp sim số 0878.778.972. Hồi 17 giờ 20 phút, ngày 26/3/2024, C sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, lắp sim số 0878.778.972 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0947.685.xxx của T để mua số lô, số đề, cụ thể:
- Tin nhắn thứ nhất: Đề đầu 8 x 150 ngàn 1 số, đầu 0 đầu 9 x30 ngàn 1 số, lô 86 x 50 điểm, 88, 55, 66 x mỗi lô 20 điểm, 090. 10 điểm, đề 090, 151, 37, 95, 97.50n, 77.100n, 38.200n, hệ 09, 51.25n, nghĩa là C mua các số đề đầu 8 gồm các số 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 x với 150.000đ/01 số = 1.500.000đ; đề đầu 0 x 30 ngàn/01 số, nghĩa là các số đề đầu 0 gồm các số 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09 x 30.000đ/01 số = 300.000đ; đề đầu 9 x 30 ngàn 1 số, nghĩa là các số đề đầu 9 gồm các số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 x 30.000đ/01 số = 300.000đ; số lô 86 x 50 điểm, nghĩa là số lô 86 = 50 điểm x 21.700đ/1 điểm = 1.085.000đ; các số lô 88, 55, 66 mỗi số = 20, tổng = 60 điểm x 21.700đ/1 điểm = 1.302.000đ; lô 090.10đ, nghĩa là mua các số lô 09, 90 x mỗi số = 10 điểm, tổng = 20 điểm x 21.700đ/01 điểm = 434.000đ; đề 090.151.37.95.97.50n, nghĩa là các số đề 09, 90, 15, 51, 37, 95, 97 x mỗi số 50.000đ = 350.000đ; 77.100n, nghĩa là số đề 77 = 100.000đ; 38.200n, nghĩa là số đề 38 = 200.000đ; hệ 09.51.25n, nghĩa là các số đề hệ 09 gồm các số 09, 90, 54, 45, 95, 59, 04, 40 x mỗi số = 25.000đ = 200.000đ; các số đề hệ 51 gồm các số 15, 51, 65, 56, 01, 10, 06, 60 x mỗi số 25.000đ = 200.000đ. Sau khi nhận được tin nhắn của C, T nhắn lại OK, nghĩa là T đồng ý bán các số lô, số đề trên cho C. Tổng số tiền C mua số lô, số đề của T ở tin nhắn này là 6.004.000đ (gồm: 3.150.000đ tiền đề, 2.971.000đ tiền lô).
- Tin nhắn thứ hai: Sau khi nhận được tin nhắn “OK” của T, C tiếp tục nhắn tin cho T để mua các số lô, số đề: Lo 575.20đ, đề 77.151.70n, nghĩa là C mua các số lô: 57, 75 mỗi số = 20 điểm, tổng = 40 điểm x 21.700đ/01 điểm = 868.000đ; các số đề 77, 15, 51 mỗi số x 70.000₫ = 210.000đ. Tổng số tiền C mua các số lô số đề ở tin nhắn này là 1.078.000đ. Sau khi nhận được tin nhắn của C, T nhắn tin trả lời C là “ok”, tức là T đồng ý bán các số lô, số đề nêu trên cho C.
- Tin nhắn thứ ba: C tiếp tục nhắn tin cho T để mua các số lô, số đề: Lo 80, 83 (35đ), 38,08 (20₫), 303, 03, 05, 07 (50₫), 68.10đ, đề 68.100n. Nghĩa là C mua các số lô: 80, 83 mỗi số 35 điểm, tổng = 70 điểm x 21.700đ/01 điểm = 1.519.000đ; các số lô 38, 08 mỗi số là 20 điểm, tổng = 40 điểm x 21.700đ/01 điểm = 868.000đ; các số lô: 30, 03, 03, 05, 07 mỗi số 50 điểm, tổng = 250 điểm x 21.700đ/01 điểm = 5.425.000đ; số lô 68 = 10 điểm x 21.700/01 điểm = 217.000đ; số đề 68 = 100.000đ. Tổng số tiền C mua các số lô, số đề ở tin nhắn này là 8.129.000đ. Sau khi nhận được tin nhắn của C, T nhắn tin trả lời C là “ok”, tức là T đồng ý bán các số lô, số đề nêu trên cho C.
Sau khi C nhắn tin mua bán lô, đề của T xong thì bị Cơ quan Công an phát hiện (khi chưa có kết quả xổ số miền B) nên tổng số tiền mà C đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề của T ngày 26/3/2024 là 15.178.000đ. Số tiền này C và T chưa kịp thanh toán thắng thua với nhau thì bị Cơ quan Công an phát hiện. Ngày 16/7/2024, C đã tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 10.691.000đ.
Về thu giữ vật chứng: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã thu giữ các vật chứng sau:
-
- Thu giữ của Nguyễn Đức H3 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu xám, bên trong lắp thẻ sim 0839.716.666 mà H3 đã sử dụng để mua bán lô đề. Kết quả kiểm tra điện thoại này xác định: Tại thư mục Zalo có tin nhắn H3 đánh bạc với Lê Sĩ T ngày 26/3/2024; tại thư mục tin nhắn SMS có tin nhắn H3 đánh bạc với Nguyễn Anh C như nội dung vụ án đã nêu trên.
-
- Thu giữ của Nguyễn Anh C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng, bên trong lắp thẻ sim số 0878.778.972 mà C đã sử dụng để mua bán lô đề. Kết quả kiểm tra điện thoại xác định: Tại thư mục tin nhắn SMS còn lưu giữ các tin nhắn C đánh bạc với Nguyễn Đức H3, Lê Sĩ T ngày 26/3/2024.
-
- Lê Sỹ T2 khai T2 sử dụng 02 chiếc điện thoại di động gồm: 01 chiếc nhãn hiệu Iphone 11 bên trong lắp sim số 0912.904.196, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 bên trong lắp sim số 0947.685.325, T2 sử dụng 01 tài khoản Zalo có tên “Thang Le” được đăng ký bằng số điện thoại 0912.904.xxx trong chiếc điện thoại Iphone 7. Đối với 02 chiếc điện thoại di động này, T2 khai: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 bên trong lắp sim số 0947.685.325 T2 sử dụng để đánh bạc với H3, C. Sau khi nhắn tin mua, bán số lô, số đề với H3, C thì T2 02 cất chiếc điện thoại này vào trong túi quần đang mặc rồi đi thể dục, trên đường đi đã bị rơi mất, T2 không biết bị rơi khi nào, ở đâu nên cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc điện thoại này.
Kết quả giám định, thu giữ điện tín: Ngày 15/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V ra các Quyết định trưng cầu giám định số 935, 936 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định khôi phục, trích xuất dữ liệu cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến trong ứng dụng SMS, ứng dụng Zalo đối với 02 chiếc điện thoại di động tạm giữ của H3, C trong thời gian từ ngày 23/3/2024 đến ngày 26/3/2024.
-
- Tại Bản kết luận giám định số 1696/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K, Công an tỉnh V giám định đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng của Nguyễn Anh C kết luận: “Chụp được 05 ảnh màn hình điện thoại thể hiện nội dung tin nhắn SMS giữa mẫu cần giám định với số điện thoại “0839.716.xxx” đư ợc lưu trong danh bạ tên “Hai Thi” và số điện thoại “0947.685.xxx” được lưu trong danh bạ tên “Thằng”tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản đăng nhập trên mẫu vật gửi giám định với tài khoản lưu tên “Thắng Al”. Toàn bộ dữ liệu nêu trên được thể hiện trong Phụ lục giám định”.
-
- Tại Bản kết luận giám định số 1697/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh V giám định đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu xám của Nguyễn Đức H3 kết luận: “Chụp được 05 ảnh màn hình điện thoại thể hiện nội dung tin nhắn SMS giữa mẫu cần giám định với số điện thoại 0878.778.xxx được lưu trong danh bạ tên “HC” và tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản đăng nhập trên mẫu vật gửi giám định với tài khoản lưu tên “Thắng Al”. Toàn bộ dữ liệu nêu trên được thể hiện trong Phụ lục giám định”.
Nghiên cứu các bản phụ lục dữ liệu kèm theo các bản Kết luận giám định số 1696 và 1697 của Phòng K Công an tỉnh V thấy có tin nhắn SMS và tin nhắn Z về việc Nguyễn Đức H3 mua các số lô, số đề của Nguyễn Anh C và Lê Sỹ T2 và tin nhắn mua số lô, số đề của Nguyễn Anh C với Lê Sỹ T2 ngày 26/3/2024 như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên.
* Kết quả xác định thông tin thuê báo số điện thoại: Đối với số điện thoại 0839.716.xxx, chủ thuê bao là Nguyễn Đức H3. Đối với số điện thoại 0947.685.xxx, chủ thuê bao là chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1975, ở phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại Cơ quan điều tra chị H5 khai: Bản thân chị H5 đang sử dụng 02 số điện thoại là 0835.426.xxx và 0984356848, chị H5 chưa bao giờ sử dụng số điện thoại 0947.685.xxx, chị H5 không biết ai là người sử dụng số điện thoại này, không biết tại sao số điện thoại này lại được đăng ký chính chủ mang tên chị. Đối với số điện thoại 0878.778.xxx, chủ thuê bao là anh Lê Văn T3, sinh năm 2002, ở xã B, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Tại Cơ quan điều tra, anh T3 khai: Từ trước đến nay anh T3 chỉ dùng 01 số điện thoại là 0354.030.xxx, anh T3 chưa bao giờ dùng số điện thoại 0878.778.xxx, anh T3 không biết ai là người sử dụng số điện thoại này, không biết tại sao số điện thoại này lại được đăng ký chính chủ mang tên anh. Đối với số điện thoại 0912.904.xxx, chủ thuê bao là Lê Sỹ T2.
Đối với việc Nguyễn Anh C khai nhận C làm thư ký, ghi số lô, số đề của người mua rồi chuyển lại cho Lê Sỹ T2 để hưởng hoa hồng. Tại Cơ quan điều tra Lê Sỹ T2 khai: T2 có quen biết Nguyễn Anh C vì là người ở cùng phường T, thành phố P. T2 không thoả thuận, không thuê Nguyễn Anh C làm thư ký ghi lô, đề cho T2 mà T2 chỉ thoả thuận việc bán lô đề cho C. Ngày 26/3/2024, T2 nhận được các tin nhắn mua số lô, số đề của C thì T2 đồng ý bán cho C và nhắn lại là “OK”. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa T2 và C, kết quả T2 và C vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Tại giai đoạn truy tố, kết quả phúc cung T2 và C vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Do đó, không đủ căn cứ để xác định C làm thư ký mua bán lô đề cho T2.
Tại bản Cáo trạng số 88/VKS-P2 ngày 17/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Lê Sỹ T2, Nguyễn Anh C và Nguyễn Đức H3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Sỹ T2, Nguyễn Anh C và Nguyễn Đức H3 phạm tội “Đánh bạc”.
-
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Sỹ T2 và bị cáo Nguyễn Anh C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H3 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
-
- Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung các bị cáo T2, C và H3 mỗi bị cáo số tiền từ 10.000.000đ đến 12.000.000₫ sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định.
Các bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế đã vi phạm pháp luật nên rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tình tiết khách quan đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
[2.1]. Do có mối quan hệ quen biết nhau nên Nguyễn Anh C, Nguyễn Đức H3, Lê Sĩ T đã nhắn tin trên điện thoại di động để đánh bạc trái phép với nhau với hình thức mua bán lô đề. Cụ thể như sau: Ngày 26/3/2024, H3 nhắn tin để mua lô đề của T với số tiền là 6.340.000 đồng; H3 nhắn tin mua lô đề của C là 4.520.000đ. Cũng trong ngày 26/3/2024, C nhắn tin để mua lô đề của T với số tiền là 15.178.000đ (Trong đó có số tiền 4.520.000₫ mà C đã bán lô đề cho H3). Khi Cơ quan điều tra triệu tập T, C và H3 đến làm việc thì chưa có kết quả sổ xố miền B ngày 26/3/2024. Do đó, số tiền dùng vào việc đánh bạc của T là 21.518.000đ, của C là 15.178.000₫ và của H3 là 10.860.000₫.
[2.2]. Kết quả điều tra xác định T, C, H3 chỉ mua bán lô đề với nhau ngày 26/3/2024. C có chuyển các số lô, đề mà H3 đã mua của C cho T để lấy tiền chênh lệch (do T chiết khấu lại cho C cao hơn cho H3). Mặc dù tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của T ngày 26/3/2024 trên 20.000.000đ, tuy nhiên T không nhận và không có tài liệu chứng minh là T đã thoả thuận cho C làm thư ký cho T; hơn nữa, việc mua bán lô đề của T với hai người là H3 và C, số tiền mua bán của mỗi người đều chưa đến 20.000.000đ (trong đó T với H3 là 6.340.000đ; T với C số tiền là 15.178.000đ), hành vi mua bán số lô, số đề trái phép chỉ diễn ra trong 01 ngày thì bị phát hiện. Do đó hành vi của T, H3, C như đã nêu trên chỉ phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Anh C, Nguyễn Đức H3, Lê Sĩ T phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trong vụ án này bị cáo T là chủ lô đề giữ vai trò đầu vụ, bị cáo C, H3 trực tiếp tham gia đánh bạc mua số lô, số đề của bị cáo T.
[4]. Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là tệ nạn xã hội cần lên án, là nguyên nhân gây ra rất nhiều mâu thuẫn, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình; chính cờ bạc cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác như ma túy, trộm cắp, cướp giật. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
[5.1]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo T có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhất; quá trình điều tra bị cáo H3 tự nguyện giao nộp lại số tiền 10.860.000đ, bị cáo C tự nguyện giao nộp 15.178.000đ nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5.2]. Bị cáo T, C mặc dù đã từng bị xử lý hành chính nhưng đã được xóa từ rất lâu. Các bị cáo T, C và H3 có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đáng được khoan hồng. Vì vậy đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Do đó, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam, chỉ cần xử phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Anh C và Nguyễn Đức H3. Kết quả điều tra xác định H3 và C đã sử dụng 02 chiếc điện thoại này để nhắn tin đánh bạc. Do vậy cần tịch thu bán phát mại nộp tiền vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền Nguyễn Đức H3 tự nguyện giao nộp 10.860.000đ và Nguyễn Anh C tự nguyện giao nộp 15.178.000₫ xác định là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T, C và H3 mỗi người phải chịu 200.000₫.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố
các bị cáo Lê Sĩ T, Nguyễn Anh C và Nguyễn Đức H3 phạm tội “Đánh bạc”.
-
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo T, C và H3:
Xử phạt bị cáo Lê Sĩ T 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh C 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H3 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T4) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Sỹ T2 và bị cáo Nguyễn Anh C cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; bị cáo Nguyễn Đức H3 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
-
Về hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự: Phạt Lê Sĩ T, Nguyễn Anh C và Nguyễn Đức H3 mỗi bị cáo số tiền 10.000.000đ sung ngân sách Nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
-
- Tịch thu bán phát mại, sung ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu xám, bên trong lắp thẻ sim 0839.716.666 thu của H3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng, bên trong lắp thẻ sim số 0878.778.972 thu của C.
-
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 26.038.000₫ mà bị cáo Nguyễn Đức H3 và bị cáo Nguyễn Anh C tự nguyện giao nộp.
Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc và Công an tỉnh V lập ngày 21/8/2024.
-
-
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Sĩ T, Nguyễn Anh C và Nguyễn Đức H3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
(đã ký) |
(đã ký) |
|
Phùng Đình Chúc Đỗ Thị Kim Thúy |
Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 106/2024/HSST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về vụ án hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 106/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bị cáo Lê Sỹ Thắng, Nguyễn Anh Cường, Nguyễn Đức Hải phạm tội đánh bạc
