Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

---

Bản án số 106/2024/HS-ST

Ngày 15 - 10 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thu Hà và ông Nguyễn Văn Bốn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 03/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vương Thị K; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1968, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ E, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Đình P và bà Nguyễn Thị M; chồng: Không có; có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/4/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí (nay là thành phố U), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/02/2017, bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/11/2017, chấp hành xong bản án. Ngày 04/10/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/8/2019, chấp hành bản án. Ngày 17/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 14 tháng 03 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Hành vi phạm tội ngày 30/12/2010). Ngày 06/3/2022, chấp hành xong bản án; bị giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 20/7/2024, tạm giữ từ ngày 20/7/2024 đến ngày 26/7/2024, tạm giam từ ngày 26/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Đinh Thị L, sinh năm 1997; địa chỉ: khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.

Người làm chứng:

2

  1. anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  2. chị Trần Thị T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn D, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  3. chị Lương Thị R, sinh năm 1992. Địa chỉ: khu K, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  4. chị Bùi Thị H, sinh năm 1993. Địa chỉ: khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có tiền chi tiêu sinh hoạt cá nhân nên sáng ngày 20/7/2024, Vương Thị K bắt xe buýt một mình đến chợ M1 thuộc khu Đ, phường M, thị xã Q, mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, K đến quầy bán hoa quả của chị Lương Thị R và gặp chị Đinh Thị L, sinh năm 1997, trú tại khu C, phường M, thị xã Q cũng đang mua hoa quả tại đây. Kiểm quan sát thấy tại hốc để đồ trên xe môtô của chị L có 01 chiếc điện thoại di động của chị L nhãn hiệu Iphone 11, màu tím. Lợi dụng chị L đang chọn mua hoa quả không để ý trông coi tài sản K đã lấy chiếc điện thoại của chị L rồi giấu dưới chiếc túi nilon màu vàng mang theo người rồi rời khỏi quầy bán hàng của chị R. Chị Bùi Thị H ở gần đó chứng kiến sự việc đã hô hoán người dân xung quanh vây bắt Kiểm. Bị phát hiện K đem giấu chiếc điện thoại vừa trộm cắp vào phía sau lô bán hàng của chị R nhưng vẫn bị chị H, chị L và người dân xung quanh phát giác.

Ngày 20/7/2024, Cơ quan điều tra giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vương Thị K và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím và 01 túi nilon màu vàng, tại cơ quan điều tra Vương Thị K thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ dữ liệu điện tử, biên bản xem dữ liệu điện tử là camera trong quầy hoa quả của chị R xác định khoảng 08 giờ 45 phút 07 giây ngày 20/7/2024 tại quầy hoa quả của chị R tại chợ M1, Vương Thị K có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động đặt trong hốc để đồ trên mô tô của chị Đinh Thị L. Kết luận định giá tài sản số 37 ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Apple Iphone 11” màu tím, dung lượng 16gb, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 5.200.000 đồng.

Cáo trạng số 2347/CT-VKSQY ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Vương Thị K về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:

  • - Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Vương Thị K từ 15 đến 18 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/7/2024.
  • - Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi nilon màu vàng.
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

3

Tại phiên tòa, bị cáo Vương Thị K khai nhận: Do không có tiền chi tiêu sinh hoạt cá nhân nên sáng ngày 20/7/2024, Vương Thị K bắt xe buýt một mình đến chợ M1 thuộc khu Đ, phường M, thị xã Q, mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, K đến quầy bán hoa quả của chị Lương Thị R và gặp chị Đinh Thị L, sinh năm 1997, trú tại khu C, phường M, thị xã Q cũng đang mua hoa quả tại đây. Kiểm quan sát thấy tại hốc để đồ trên xe môtô của chị L có 01 chiếc điện thoại di động của chị L nhãn hiệu Iphone 11, màu tím. Lợi dụng chị L đang chọn mua hoa quả không để ý trông coi tài sản K đã lấy chiếc điện thoại của chị L rồi giấu dưới chiếc túi nilon màu vàng mang theo người rồi rời khỏi quầy bán hàng của chị R; lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng bị Viện kiểm sát đã truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại chị Đinh Thị L có lời khai thể hiện: Khoảng 08 giờ 40, ngày 20/7/2024 chị L từ nhà đến chợ M1, khu Đ, phường M, thị xã Q. Khi đến hàng hoa quả ở cuối chợ, chị L dựng xe trước cửa quầy hàng để chọn đồ, trong lúc đang mải chọn đồ không để ý xung quanh thì có một người phụ nữ bán hàng hoa quả bên cạnh ngồi gần xe máy của chị L hỏi “có ai bị mất điện thoại không, khi nãy có người lấy trộm điện thoại trên xe máy này”, đồng thời chỉ về phía người phụ nữ trung tuổi mặc áo phông màu nâu đang bỏ đi. Khi đó chị L phát hiện chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 11 để ở hộc để đồ bên yếm xe máy bên trái bị mất. Sau đó chị L cùng người dân chạy theo giữ được người phụ nữ này lại. Khi đó người phụ nữ này do sợ vì bị phát hiện, nên đã cởi chiếc áo khoác mặc bên ngoài ra đồng thời vứt chiếc điên thoại đã lấy trộm của chị L và chiếc túi ni lông màu vàng mà người này cầm theo tại cửa hàng vàng mã gần đó. Chị L cùng những người dân trong chợ đưa người này về khu vực hàng hoa quả và báo cho ban quản lý chợ đến để giải quyết. Sau đó lực lượng Công an đã có mặt đưa người phụ nữ này về trụ sở để làm việc. Chiếc điện thoại chị L bị mất nhãn hiệu: Apple, kiểu loại: Iphone 11, đã qua sử dụng. Chiếc điện thoại nói trên là điện thoại đã qua sử dụng được mua lại tại cửa hàng điện thoại Anh T, địa chỉ: Khu L, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh vào khoảng tháng 02/2024 với giá tiền là 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng), giá trị hiện tại khoảng: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), nay chị L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo K.

Người làm chứng có lời khai tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

4

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của bị hại, người làm chứng và nội dung trích xuất hình ảnh video, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 20/7/2024, tại quầy hoa quả của chị Lương Thị R thuộc chợ M1 ở khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Vương Thị K đã trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím trị giá 5.200.000 đồng của chị Đinh Thị L. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đây là một trong những quyền được pháp luật Nhà nước bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Văn D đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về hình phạt:

[3.1]Hình phạt chính:

  • - Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân xấu, đã 4 lần bị xét xử phạm tội trộm cắp tài sản.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản đã trả lại ngay cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

5

  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Đinh Thị L, nên không đề cập giải quyết.
  • - Đối với 01 túi nilon màu vàng, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, chị Đinh Thị L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố: bị cáo Vương Thị K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Vương Thị K 08 (T2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 20/7/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi nilon màu vàng.

    (Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 10 giờ, 15 phút, ngày 01/10/2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Vương Thị K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND thị xã Quảng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quảng Yên;
  • - Cơ quan THAHS Công an TX Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Thị Kiểm phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger