Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 9 năm 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và ông Đỗ Ngọc Nam

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành S, sinh ngày 07/5/1992. Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1960; Anh, chị, em có 04 người, bị cáo là người thứ tư; C sống như vợ chồng với Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995; Bị cáo chưa có con. Ngày 31/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, chấp hành xong ngày 31/8/2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 29/6/2024 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1971. Nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Trần Văn S1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2/ Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị P (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 16/6/2024, Nguyễn Thành S điều khiển xe mô tô gắn biển số 70P1-4636 ngang khu vực ấp T, xã M, huyện T, thấy cửa nhà anh Nguyễn Phước T khóa ổ khóa ngoài, S biết trong nhà không có người nên dừng xe lấy 01 cây vít trong cốp xe rồi leo rào vào trong sân dùng vít mở vách bằng tole đột nhập vào trong nhà. S tiếp tục dùng vít tháo hệ thống điện lấy 01 mô tơ điện loại 1,5HP, 01 ổn áp hiệu ROBOT, 01 quạt trần hiệu Senco rồi ném các tài sản trộm được qua cửa sổ nhà bếp, S thoát ra bằng đường đột nhập vào đến lấy các tài sản trên bỏ vào bao rồi mang cất giấu trong bụi cây gần nhà ở ấp P, xã Đ. Sau đó, S mang mô tơ đến tiệm phế liệu của Trần Văn S1 ở ấp B, xã T, huyện T bán được 150.000 đồng, mua ma túy của 01 người không rõ nhân thân ở khóm N, thị trấn N sử dụng một mình hết. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S1 tiếp tục đem 01 ổn áp đến bán cho Trần Văn S1 được 150.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Riêng quạt trần S1 mang về nhà sử dụng. Ngày 19/6/2024, S1 tiếp tục quay lại nhà của anh T lục tìm tài sản lấy trộm thì bị người dân phát hiện tri hô, S1 bỏ trốn.

Ngày 20/6/2024, biết hành vi lấy trộm tài sản nhà ông T bị phát hiện S1 đến Công an xã M đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 ổn áp nhãn hiệu ROBOT loại 3KVA; 01 quạt trần nhãn hiệu Senco; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại VISION, gắn biển số 70P1-4636, số khung RLHJK03007NY036626, số máy JK03E0107297; 01 cây vít thử điện; 01 cây vít; 01 cây kiềm trắng đỏ; 01 cây dao bằng kim loại cán màu nâu, lưỡi dao màu đen dài (22 x 7)cm.

Ngày 25/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả 01 ổn áp nhãn hiệu ROBOT loại 3KVA và 01 quạt trần nhãn hiệu Senco cho ông Nguyễn Phước T.

Tại Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 01 ổn áp nhãn hiệu ROBOT loại 3KVA trị giá 2.700.000 đồng; 01 mô tơ điện, loại 1,5HP trị giá 1.050.000 đồng; 01 quạt trần nhãn hiệu Senco trị giá 450.000 đồng, tổng trị giá 4.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 92/CT-VKSTS ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại ông Nguyễn Phước T trình bày việc mất trộm như nội dung vụ án đã nêu. Hiện T đã nhận lại quạt trần, ổn áp và tiền bồi thường 1.050.000 đồng nên T không yêu cầu bồi thường thêm.

Người làm chứng Nguyễn Thị P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1 (mẹ ruột, vợ của bị cáo S) trình bày: Ngày 19/6/2024, thấy S mang về nhà 01 quạt trần cũ để sử dụng; Phường và H1 không biết tài sản do phạm tội mà có. Phường đã giao nộp quạt trần cho Công an, H1 thay S bồi thường số tiền 1.050.000 đồng cho ông T, không yêu cầu S trả lại số tiền nêu trên. H1 xin được nhận lại xe mô tô.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Văn S1 trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Khi mua tài sản trên, Trần Văn S1 không biết tài sản do phạm tội mà có, đã bán mô tơ điện cho người không rõ nhân thân và giao nộp ổn áp nhãn hiệu ROBOT cho Công an, không yêu cầu bị cáo Thành S bồi thường.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành S mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Phước T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn S1 vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra anh Văn S1, ông T đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thành S đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ ngày 16/6/2024, Nguyễn Thành S điều khiển xe mô tô gắn biển số 70P1-4636, đến nhà của ông Nguyễn Phước T lén lút lấy một ổn áp nhãn hiệu ROBOT loại 3KVA, một mô tơ điện loại 1,5HP và một quạt trần nhãn hiệu Senco. Tổng giá trị tài sản là 4.200.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Thành S là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền mua ma túy sử dụng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn không biết chữ; sau khi phạm tội đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi vụ án xảy ra bị hại đã nhận lại tài sản và gia đình thay bị cáo nộp bồi thường số tiền 1.050.000 đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thành S là người có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Thành S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành S phạm tội “Trộm cắp tài sản

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2024.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành S và Nguyễn Thị H1 01 (một) xe mô tô số máy JK03E0107297, số khung: RLHJK0307NY036626. Tịch thu tiêu hủy: biển số 70P1-4636; 01 (một) cây tua vít thử điện; 01 (một) cây tua vít; 01 (một) cây kềm trắng đỏ; 01 (một) cây dao bằng kim loại cán màu nâu, lưỡi dao màu đen. Tất cả đã qua sử dụng. (Đặc điểm tang vật theo như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thành S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành S phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger