Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Hoa Hường và ông Lê Phương Tùng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đinh Văn D (B), sinh ngày 11/4/2005, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch; Việt Nam; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: không; con ông Hà Văn L và bà Đinh Thị Thanh H (chết); chưa có vợ, con.

Tiền sự, tiền án: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn V, sinh năm 1996, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số A, tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ văn hóa: 01/12; con ông Lê Văn M và bà Huỳnh Thị T; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/5/2016, bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

Bị cáo bị tạm giam, từ ngày 02/5/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Viết D1, sinh năm 1990, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số B, đường B, tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; quốc tịch; Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: không; con ông Trần Viết A và bà Nguyễn Thị Hữu T1; chưa có vợ, con.

Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

4. Thái Thị Trúc L1, sinh năm 1995, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nữ; quốc tịch; Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: không; con ông Thái Tấn H1 và bà Ngô Thị N; chồng Lữ Quí L2, sinh năm 1978 (đã ly hôn năm 2014); có 01 con sinh năm 2013.

Tiền sự: không

Tiền án: Ngày 23/5/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/8/2023, chưa xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trương Chí S, sinh năm 1996, địa chỉ: tổ A, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Mạc Thanh S1, sinh năm 1994, địa chỉ: tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Phạm Tấn T2, sinh năm 1985, địa chỉ: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982, địa chỉ: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Bà Đặng Thị Kim N1, sinh năm 1996, địa chỉ: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Nguyễn Tuấn T3, sinh năm 2003, địa chỉ: khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người chứng kiến:

  • Bà Đinh Thị Thanh T4, sinh năm 1972, vắng mặt;
  • Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1975, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 11/4/2024, Công an phường N kiểm tra phòng trọ số 11 do Trần Viết D1 và Thái Thị Trúc L1 thuê phát hiện 01 bọc nilon trong suốt, một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng lực lượng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D1, L1 cùng tang vật và nhiều vật chứng có liên quan. D1 và L1 cùng khai chất tinh thể màu trắng bị thu giữ là ma túy đá, do D1 mua của Đinh Văn D nhà ở khu vực Hầm C thuộc khóm V, phường N, thành phố C về để sử dụng và bán lại kiếm lời.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, Công an phường N nhận được tin báo có đối tượng hoạt động phạm tội về ma túy, tiến hành kiểm tra trên người Lê Văn V thu giữ 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ hàn kín, chứa chất bột màu trắng và 01 đoạn ống hút màu xanh hàn kín, chứa tinh thể màu trắng; kiểm tra khu vực D và V đang ngồi thu giữ 09 đoạn ống hút nhựa, hàn kín chứa chất bột màu trắng, 04 đoạn ống hút nhựa màu xanh, hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 03 bọc nilon trong suốt, hàn kín, chứa tinh thể màu trắng 12 bọc nilon trong suốt, cuộn tròn hàn kín, màu chứa chất bột màu trắng, 06 bọc nilon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, chứa tinh thể màu trắng và nhiều vật chứng có liên quan tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Đinh Văn D và Lê Văn V cùng khai nhận chất bột và chất tinh thể màu trắng bị thu giữ là ma túy, do D mua của người tên H2 nhà ở T để bán lại cho những người nghiện kiếm lời và để sử dụng.

Căn cứ Kết luận giám định số 512/KL - KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:

Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5395 gam; Mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1019 gam.

Căn cứ Kết luận giám định số 596/KL - KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:

Mẫu M1,M2,M5,M6,M7,M8 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 6,2777gam; Mẫu M3,M4,M9,M10.M11 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 16,3411 gam; Mẫu M12, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,0443 gam; Mẫu M13 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0227 gam.

Vật chứng thu giữ:

  • Trần Viết D1 và Thái Thị Trúc L1: 01 bọc nilon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 cây cân tiểu li màu đen, có ghi chữ Mouse Scale; 04 điện thoại di động các loại; 01 xe mô tô màu đen, biển số: 79D1-021.20 và các vật dụng liên quan đến việc sử dụng, mua bán ma túy.
  • Đinh Văn D: 01 hộp nhựa dáng băng keo màu đen-trắng, bên trong có: 07 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, hàn kín chứa chất bột màu trắng, 02 đoạn ống hút nhựa trong suốt hàn kín, chứa chất bột màu trắng, 04 đoạn ống hút nhựa màu xanh, hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 03 bọc nilon trong suốt, hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; 03 bọc nilon trong suốt cuộn tròn, hàn kín chứa chất bột màu trắng; 01 hộp giấy màu đen-cam ghi chữ Lighter, bên trong có 09 bọc nilon trong suốt cuộn tròn, hàn kín chứa chất bột màu trắng và 01 bọc nilon trong suốt một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng; 01 hộp nhựa dán băng keo màu đen, bên trong có 05 bọc nilon trong suốt, một đầu có rảnh khóa, viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng; 01 hộp giấy màu xám, ghi chữ Petro bên trong có 09 bọc nilon trong suốt, một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn, 01 lưỡi lam màu trắng hiệu Bic (đã qua sử dụng).
  • Lê Văn V: 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, hàn kín bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Cáo trạng số 82/CT-VKSNDCĐ-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo Đinh Văn D, Lê Văn V, Trần Viết D1, Thái Thị Trúc L1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đinh Văn D, Lê Văn V, Trần Viết D1 và Thái Thị Trúc L1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Đinh Văn D theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lê Văn V, Trần Viết D1 theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Thái Thị Trúc L1 theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố đối với các bị cáo.

Xét về đồng phạm, đây là một vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó, bị cáo Đinh Văn D là nguy hiểm nhất, kế tiếp là bị cáo Lê Văn V đến Trần Viết D1 cuối cùng là bị cáo Thái Thị Trúc L1.

Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình, đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét đối với các bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, học vấn thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra đã tự thú khai nhận đối với những lần mua bán ma túy trước đó. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn D mức án từ 10 năm đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn V mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Viết D1 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Thái Thị Trúc L1 mức án từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ dùng để sử dụng ma túy;

- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô, màu đen, biển số 79D1 - 021.20, lốc máy in chữ Yamaha, số máy: 169814, số khung: 169814 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Realme. Số IMEI 1: 865071049880318; số IMEI 2: 865071049880300; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0837.887.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0973.616.xxx (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Oppo. Số IMEI 1: 869115044912398; số IMEI 2: 869115044912380; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0586.654.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0789.670.xxx. (đã qua sử dụng).

- Giao trả Thái Thị Trúc L1: 01 (một) điện thoại di động màu tím, nhãn hiệu Samsung. Số IMEI 1: 359051090321266; số IMEI 2: 359052090321264; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0346.457.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0367.085.xxx (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Samsung. Số IMEI 1: 357161097114960; SỐ IMEI 2: 357162097114968; Có gắn sim điện thoại số: 0345.625.xxx (đã qua sử dụng).

- Buộc bị cáo Đinh Văn D giao nộp 10.200.000 đồng thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy mà có để sung vào Ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người chứng kiến, vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về khoảng thời gian, địa điểm cũng như cách thức mua bán, loại ma túy và giá tiền mà các bị cáo đã bán ma túy.

Ngoài ra, diễn biến, nội dung của vụ án và hành vi mà các bị cáo đã thực hiện còn phù hợp với các nguồn chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa như: Kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ liên quan khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định Đinh Văn D, Lê Văn V, Trần Viết D1, Thái Thị Trúc L1 đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị bắt quả tang. Trong đó, Đinh Văn D, Lê Văn V, Trần Viết D1, đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ tổng khối lượng ma túy của Đinh Văn D là 23,3273 gam (17,0053 gam Methamphetamine và 6,3220 gam Heroin); Trần Viết D1 là 0,6415 gam, loại Methamphetamine; Lê Văn V là 0,067 gam (0,0443 gam Heroin và 0,0227 gam Methamphetamine) và Thái Thị Trúc L1 mua bán trái phép ma túy 01 lần giúp cho Viết D1.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Đinh Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Viết D1, Lê Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Thái Thị Trúc L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa và lời buộc tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái pháp ma túy là xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma túy nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Ma túy là chất gây nghiện, là mầm móng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Xét, cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tạo điều kiện để các bị cáo nhận thức sâu sắc hơn về hành vi đã thực hiện, phát huy tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội như quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Văn V là người có nhân thân xấu. Ngày 12/5/2016, bị cáo V bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đinh Văn D, Trần Viết D1 và Lê Văn V không có tình tăng nặng. Riêng, bị cáo L1 có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 23/5/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích bị cáo L1 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã tự nguyện khai nhận các lần phạm tội trước, khi tội phạm chưa bị phát hiện; Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cãi; các bị cáo xuất thân từ thành phần lao động khó khăn trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về vai trò đồng phạm: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn nhưng cần phân hóa vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt.

Đối với Đinh Văn D có vai trò đầu vụ là người bỏ tiền ra, trực tiếp đi mua ma túy về phân lại rồi bán cho những người nghiện, đồng thời bị cáo còn thuê bị cáo Lê Văn V bán ma túy cho các đối tượng nghiện, bị cáo hưởng lợi toàn bộ số tiền lời 10.200.000 đồng từ việc bán ma túy có được; bị cáo Lê Văn V có vai trò là người giúp sức tích cực cho bị cáo Đinh Văn D trong việc bán ma túy, được bị cáo Đinh Văn D bao ăn, ở và cho ma túy mỗi ngày để sử dụng; bị cáo Trần Viết D1 với vai trò là người thực hành trực tiếp mua ma túy của bị cáo Đinh Văn D về phân nhỏ ra để bán lại, kiếm lời với mục đích lấy tiền lời mua ma túy lại để tái sử dụng; bị cáo Thái Thị Trúc L1 là người giúp sức cho bị cáo Trần Viết D1 đi giao ma túy 01 lần cho người mua là Nguyễn Văn C. Do đó, hành vi của bị cáo Đinh Văn D là nguy hiểm nhất, kế tiếp là bị cáo V rồi đến Trần Viết D1 cuối cùng là bị cáo L1.

[5] Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc thành phần lao động, thu lợi từ hành vi bán ma túy không lớn, xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp: Số tiền mà bị cáo Đinh Văn D khai thu được từ việc mua bán ma túy là 10.200.000 đồng. Xét thấy, đây là số tiền bị cáo có được từ việc vi phạm pháp luật, là tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo Đinh Văn D giao nộp lại số tiền này.

[7] Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 596/KL-KTHS ngày 08 tháng 5 năm 2024, kí hiệu M₁ - M11) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Văn Â; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 596/KL-KTHS ngày 08 tháng 5 năm 2024, kí hiệu M12 + M13) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Văn Â; 01 hộp giấy màu xám, ghi chữ Pedro bên trong có 09 bọc nilon trong suốt, một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn; 01 lưỡi lam màu trắng hiệu Bic (đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 512/KL-KTHS ngày 17 tháng 4 năm 2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Văn Â; 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống thuỷ tỉnh, một lỗ gắn ống hút nhựa màu xanh, trắng; 01 (một) cây kềm bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, sọc trắng, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, sọc trắng, một đầu vạt nhọn; 01 (một) cây cân tiểu ly màu đen, bên trên có dòng chữ Mouse S2. Đây là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô, màu đen, biển số 79D1 - 021.20, lốc máy in chữ Yamaha, S3, số máy: 169814, số khung: 169814 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Realme 5pro. Số IMEI 1: 865071049880318; số IMEI 2: 865071049880300; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0837.887.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0973.616.xxx (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Oppo. Số IMEI 1: 8691150449112398; số IMEI 2: 869115044912380; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0586.654.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0789.670.xxx. (đã qua sử dụng). Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, xét tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu tím, nhãn hiệu Samsung. Số IMEI 1: 359051090321266; số IMEI 2: 359052090321264; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0346.457.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0367.085.xxx (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J2. Số IMEI 1: 357161097114960; Số IMEI 2: 357162097114968; Có gắn sim điện thoại số: 0345.625.xxx (đã qua sử dụng). Đây là 02 điện thoại của Thái Thị Trúc L1 không liên quan đến việc mua bán ma túy, xét trả lại cho bị cáo L1.

[8] Về các vấn đề khác:

Nguyễn Văn C, Đặng Thị Kim N1,Nguyễn Tuấn T3, Trương Chí S, Mạc Thanh S1, Phạm Tấn T2 đã mua ma túy của Đinh Văn D, Lê Văn V, Trần Viết D1 và Thái Thị Trúc L1 để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã chuyển xử lý hành chính theo quy định và người đàn ông tên H2 (không rõ họ tên, địa chỉ) đã bán ma túy cho Đinh Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn D (B), Lê Văn V, Trần Viết D1, Thái Thị Trúc L1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn D (B): 10 (mười) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/5/2024 (ngày hai, tháng năm, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn V: 08 (tám) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo V được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/5/2024 (ngày hai, tháng năm, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Xử phạt: Bị cáo Trần Viết D1: 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024 (ngày mười một, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Thái Thị Trúc L1: 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024 (ngày mười một, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ Điêu 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 596/KL-KTHS ngày 08 tháng 5 năm 2024, kí hiệu M1 -> M11) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Văn Â; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 596/KL-KTHS ngày 08 tháng 5 năm 2024, kí hiệu M12 + M13) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Văn Â; 01 hộp giấy màu xám, ghi chữ Petro bên trong có 09 bọc nilon trong suốt, một đầu có rảnh khóa viền màu đỏ; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn; 01 lưỡi lam màu trắng hiệu Bic. (đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 512/KL-KTHS ngày 17 tháng 4 năm 2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Văn Â; 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ gắn nỏ thuỷ tỉnh, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng-xanh; 01 (một) bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kềm bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống hút màu vàng, sọc trắng, một đầu vạt nhọn; 01 (một) cây cân tiểu ly màu đen, bên trên có dòng chữ Mouse S2.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô, màu đen, biển số 79D1 - 021.20, lốc máy in chữ Yamaha, số máy: 169814, số khung: 169814 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Realme. Số IMEI 1: 865071049880318; số IMEI 2: 865071049880300; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0837.887.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0973.616.xxx (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Oppo. Số IMEI 1: 869115044912398; số IMEI 2: 869115044912380; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0586.654.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0789.670.xxx. (đã qua sử dụng).

- Giao trả bị cáo Thái Thị Trúc L1 01 (một) điện thoại di động màu tím, nhãn hiệu Samsung. Số IMEI 1: 359051090321266; số IMEI 2: 359052090321264; Khe sim 1 có gắn sim điện thoại số: 0346.457.xxx; Khe sim 2 có gắn sim điện thoại số: 0367.085.xxx (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J2; Số IMEI 1: 357161097114960; Số IMEI 2: 357162097114968; Có gắn sim điện thoại số: 0345.625.xxx (đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Buộc bị cáo Đinh Văn D giao nộp số tiền thu lợi bất chính 10.200.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đinh Văn D, Trần Viết D1, Lê Văn V, Thái Thị Trúc L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời gian kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Viện KSND thành phố;
  • - Nhà Tạm giữ;
  • - Phòng hồ sơ;
  • - Thi hành án DS thành phố;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger