|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 105/2024/HSST Ngày: 23 - 09 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Mỳ và ông Chu Hồng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 05/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXX ngày 09/9/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hứa Văn T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 17/8/1995; Nơi đăng ký hộ khẩu: Xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú hiện nay: Xóm K, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Hứa Văn H, sinh năm: 1973; con bà: Hoàng Thị T1, sinh năm: 1976 (hiện không rõ địa chỉ). Bị cáo có 02 anh, em, T là con thứ hai trong gia đình. Có vợ là Trần Thị K, sinh năm: 1988. Vợ chồng có 01 con, sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Hứa Văn T bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Người bị hại: Ông Mai Thế C, sinh năm 1951;
Nơi cư trú: Xóm E, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1959;
- Chị Trần Thị K, sinh năm 1988; (Có mặt)
- Bà Triệu Thị D, sinh năm 1953;
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1982;
- Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1985;
- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1958;
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1973;
- Anh Bùi Ngọc T4, sinh năm 1983;
- Anh Long Văn C1, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: Xóm E, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm K, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm K, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm H, xã S, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm Địa Chất, xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
TQ: Xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt ông C, bà S, chị K, anh C1 tại phiên tòa; Vắng mặt những người liên quan khác tại phiên tòa do có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2023, Hứa Văn T đến lắp mái tôn cho gia đình ông Mai Thế C, sinh năm 1951, trú tại: xóm E, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình làm việc tại nhà ông C, T biết nhà ông C có tiền nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tiền của nhà ông C để chi tiêu cá nhân. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 3/2024 đến ngày 20/3/2024, T đã nhiều lần trộm cắp tiền của ông C, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút một ngày đầu tháng 3/2024, T điều khiển xe mô tô của T nhãn hiệu Honda Blade, BKS: 20B2-075.95 đi từ nhà đến nhà ông C để trộm cắp tài sản. Sau khi quan sát thấy cổng nhà ông C đóng và không có ai ở nhà, T để xe mô tô ở đường bê tông gần cổng ra vào rồi đi bộ theo bờ ao đến khu vực bếp nhà ông C. Tại đây T lấy 01 con dao ba dài 41cm, chuôi gỗ đi đến cạy chốt cửa nhà vệ sinh. Rồi T đi vào phòng ngủ thì phát hiện thấy số tiền 12.000.000 đồng để trong một chiếc phong bì giấy màu trắng trong ngăn kéo tủ nhựa. T lấy toàn bộ số tiền 12.000.000 đồng rồi đi ra khỏi nhà ông C. Sau khi trộm cắp được tiền, T sử dụng 6.500.000 đồng mua ống thép tại cửa hàng “H” của chị Nguyễn Thu P1 (sinh năm 1982, địa chỉ tại xóm H, xã S, TP ., tỉnh Thái Nguyên) để sửa nhà, số tiền còn lại T chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ hai: Khoảng 03 ngày sau khi trộm cắp tài sản lần thứ nhất, T điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-075.95 đến nhà ông C để trộm cắp tài sản. T để xe ở đường bê tông gần cổng nhà ông C rồi đi bộ theo bờ ao đến khu vực bếp nhà ông C. Thấy cánh cửa nhà vệ sinh tiếp giáp với phòng ngủ của vợ chồng ông C không khóa, T đi qua nhà vệ sinh vào phòng ngủ để tìm kiếm tài sản.Thuyết mở ngăn tủ nhựa lần trước ra thì thấy có ba chiếc túi nhựa màu trắng, loại túi Clearbag bên trong có tổng số tiền là 20.000.000 đồng. T lấy toàn bộ số tiền trên rồi để các túi nhựa tại vị trí cũ, sau đó đi theo hướng đã đột nhập ra khỏi nhà ông C. Số tiền trộm cắp có được, T trả nợ cho cửa hàng sắt “Thành Hợi” của ông Phạm Văn T2 (sinh năm 1958, địa chỉ tại xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) hết số tiền 1.732.000 đồng; trả nợ cho một người đàn ông không quen biết tại TP ., tỉnh Thái Nguyên hết số tiền 6.500.000 đồng; số tiền còn lại T chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ ba: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/3/2024, T tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-075.95 đến nhà ông C để trộm cắp tài sản. T để xe mô tô ở đường bê tông gần cổng nhà ông C rồi đi theo hướng đột nhập cũ vào nhà ông C. Thấy cửa nhà vệ sinh bị khóa nên T đi vào bếp lấy 01 con dao ba (là dao Thuyết đã sử dụng lần trộm thứ nhất) đi đến cạy mở cảnh cửa nhà vệ sinh. Sau đó T đi qua nhà vệ sinh vào phòng ngủ, mở ngăn kéo tủ nhựa đã trộm cắp tài sản các lần trước đó để tìm kiếm tài sản thì phát hiện số tiền 24.000.000 đồng để trong một bao lì xì. T lấy toàn bộ số tiền trên rồi rời khỏi nhà ông C. Ngày 11/3/2024, T chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào số tài khoản cá nhân T. Sau đó T trả nợ cho chị Đỗ Thị L (sinh năm 1985, là chủ quán tạp hóa “Hương Liên”, địa chỉ tại xóm Đ, xã H, huyện Đ) số tiền khoảng 2.000.000 đồng; trả nợ cho quán bán thịt lợn của bà Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1973, địa chỉ tại xóm Đ, xã H, huyện Đ) số tiền 3.100.000 đồng, số tiền còn lại Thuyết chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ tư: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, T điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-075.95 đến nhà ông C để trộm cắp tài sản. T để xe mô tô tại đường dân sinh phía sau đồi cây nhà ông C rồi đi vào khu vực bếp nhà ông C. T lấy con dao ba cạy mở cửa nhà vệ sinh để đi vào trong phòng ngủ. T phát hiện thấy trong ngăn kéo tủ nhựa nơi đã trộm cắp tài sản các lần trước đó có 02 chiếc phong bì giấy màu trắng, trong đó 01 phong bì bên trong có 20.000.000 đồng, 01 phong bì bên trong có 10.000.000 đồng. T lấy toàn bộ số tiền 30.000.000 đồng trong 02 phong bì cho vào túi quần, để phong bì lại vị trí cũ rồi rời khỏi nhà ông C. Số tiền trộm cắp có được, T trả tiền mua sắt, tôn kim loại tại cửa hàng “Tuấn Ngà” của anh Bùi Ngọc T4 (sinh năm 1972, địa chỉ tại xóm Đ, xã H, huyện Đ) hết số tiền 16.000.000 đồng. T mua 01 chiếc điện thoại di động tại một cửa hàng ở TP . với số tiền 9.500.000 đồng, số tiền còn lại T đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ năm: Khoảng 03 ngày sau khi trộm cắp tài sản lần thứ tư, T điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-075.95 đến nhà ông C để trộm cắp tài sản. T để xe tại đường dân sinh phía sau đồi cây rồi đi vào khu bếp nhà ông C. T lấy con dao ba cạy mở cửa nhà vệ sinh rồi đi vào phòng ngủ thì phát hiện số tiền 6.000.000
đồng để trong chiếc túi xách màu đen trên két sắt. T lấy toàn bộ số tiền trên rồi rời khỏi nhà ông C. Số tiền trộm cắp có được T chi tiêu cá nhân hết
Lần thứ sáu: Sáng ngày 20/3/2024, T điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-075.95 đến nhà ông C để trộm cắp tài sản. T để xe tại đường bê tông rồi đột nhập vào nhà ông C. T sử dụng con dao ba để cạy mở cửa nhà vệ sinh rồi đi vào phòng ngủ của nhà ông C tìm kiếm nhưng không có tài sản gì. Sau đó, T đi ra phòng khách thì phát hiện số tiền 2.000.000 đồng để trong ngăn tủ của chiếc kệ để ti vi và số tiền 300.000 đồng đặt trên bàn thờ. Số tiền trộm cắp có được T đã chi tiêu cá nhân hết;
Lần thứ 7: Sáng ngày 04/7/2024, do con gái đang nằm điều trị tại bệnh viện Q và không có tiền điều trị bệnh nên T tiếp tục đến nhà ông C, Khoảng 09 giờ 15 phút T điều khiển xe máy BKS 20B2 – 075.95, đến nhà ông C2, T trèo qua hàng rào B40 dùng dao cậy cửa, mở nhà vệ sinh rồi vào trong phòng khách tìm kiếm tài sản lấy được 500.000đ trong cặp sách để trên ghế và 15.000đ trong chiếc túi sách để trên ghế băng; 500.000đ trên bàn thờ rồi rời khỏi nhà ông C. Tổng số tiền thuyết chiếm đoạt được trong ngày 04/7/2024 của ông C là 1.015.000₫.
Sau khi phát hiện gia đình bị mất tài sản, kiểm tra camera an ninh của gia đình nên ngày 04/7/2024 ông Mai Thế C và bà Nguyễn Thị S làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã C, huyện Đ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tiếp nhận tin báo, Công an xã C, huyện Đ đã tiến hành rà soát, thu thập thiết bị ghi hình tại khu vực nơi xảy ra sự việc phát hiện đối tượng thực hiện hành vi phạm tội là Hứa Văn T nên đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, BKS: 20B2-075.95, cũ đã qua sử dụng ; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, nhãn hiệu Samsung Glaxy A03, đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT thu giữ của T.
- - 01 con dao ba có tổng chiều dài 41cm, chuôi dao bằng gỗ, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu Đ1 thu giữ của nhà ông C.
- - 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ2; 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ3 thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.
Các vật chứng nêu trên Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý khi xét xử vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Mai Thế C yêu cầu Hứa Văn T bồi thường tổng số tiền 94.300.000 đồng, trước khi xét xử, ngày 27/8/2024 gia đình bị cáo T
gồm chú rể là ông Lăng Văn C3 tự nguyện nộp số tiền bồi thường cho gia đình ông Mai Thế C và bà S số tiền 50.000.000đ. đã có văn bản tự nguyện thảo thuận. Số tiền còn lại 44.300.000đ, chưa thanh toán.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 100/CT - VKSĐT ngày 03/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Hứa Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Hứa Văn T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Việc phạm tội chỉ là nhất thời phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra người bị hại có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên”
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- * Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; điêm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt: Hứa Văn T từ 24 đến 30 tháng tù.
- * Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
- * Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền còn thiếu cho ông C và bà S: 44.300.000đ;
- * Vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ2; 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ3 thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.
- * Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí DSST; bị cáo, người bị hại, người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- *Phần tranh luận đối đáp:
Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/7/2024
Đề nghị sung công quỹ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, BKS: 20B2-075.95, cũ đã qua sử dụng.
Trả lại bà Triệu Thị D 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, nhãn hiệu Samsung Glaxy A03, đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT thu giữ do bị cáo T tự giao nộp;
Trả lại ông C: 01 con dao ba có tổng chiều dài 41cm, chuôi dao bằng gỗ, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu Đ1 thu giữ của nhà ông C;
Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, đề nghị Toà án cho hưởng lượng khoan hồng của pháp luật với mức án thấp nhất.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa: Không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trước đó đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án và giành quyền kháng cáo cho những người vắng mặt tại phiên tòa theo quy định của pháp luật.
[1.3]. Bị cáo Hứa Văn T là dân tộc thiểu số sinh sống tại xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xã V là xã đặc biệt khó khăn (khu vực III), theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định phê duyệt các xã vùng I, II, III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025, theo quy định Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017thì bị cáo thuộc
nhóm người được trợ giúp pháp lý miễn phí. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T giữ nguyên quan điểm từ chối được bào chữa, từ chối Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T cử trợ giúp viên tham gia bào chữa cho bị cáo. Đây là quyền tự định đoạt của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận, bị cáo có quyền tự bào chữa tại phiên tòa.
[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Hứa Văn T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên trong khoảng thời gian từ đầu tháng 3/2024 đến ngày 20/3/2024, tại xóm E, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, lợi dụng gia đình ông Mai Thế C sơ hở trong việc quản lý tài sản, Hứa Văn T đã nhiều lần thực hiện hành vi lén lút trèo tường rào vào gia đình trộm cắp tài sản là tiền của nhà ông C để chi tiêu cá nhân, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút một ngày đầu tháng 3/2024, T trộm cắp trong phòng ngủ của ông C số tiền 12.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 03 ngày sau khi trộm cắp tài sản lần thứ nhất, T trộm cắp trong phòng ngủ của ông C số tiền 20.000.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/3/2024, T trộm cắp trong phòng ngủ của ông C số tiền 24.000.000 đồng.
Lần thứ tư: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, T trộm cắp trong phòng ngủ của ông C số tiền 30.000.000 đồng.
Lần thứ năm: Khoảng 03 ngày sau khi trộm cắp tài sản lần thứ tư,T trộm cắp trong phòng ngủ của ông C số tiền là 6.000.000 đồng.
Lần thứ sáu: Sáng ngày 20/3/2024 T trộm cắp trong phòng khách của ông C số tiền 2.300.000 đồng.
Ngoài ra: Ngày 04/7/2024 T chiếm đoạt số tiền 1.015.000đ của gia đình ông C.
Tổng số tiền các lần T chiếm đoạt được của ông C là 94.300.000 đồng (Chín mươi tư triệu ba trăm ngàn đồng).
Như vậy, bị cáo Hứa Văn T thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại một cách chót lọt và nhiều lần, trong khi thực hiện không có đồng phạm khác tham gia. Ngày 04/7/2024, T chiếm đoạt tài sản chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội một cách liên tục và kế tiếp nhau về mặt thời gian. Căn cứ Công văn số 64/TANDTC – PC ngày 03/4/2019, về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và Tố tụng hành chính của Tòa án nhân dân tối cao, tại mục 1, phần I về Hình sự, hướng dẫn đối với trường hợp một người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản liên tục và kế tiếp về mặt tời gian mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và
chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, Do vậy, hành vi, ý thức đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Trộm cắp tài sản”.
[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố bị cáo Hứa Văn T về tội danh và điều luật viện dẫn với tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự tại Bản cáo trạng số: 100/CT-VKSĐT ngày 03/9/2024 là có căn cứ, đúng luật.
Cụ thể Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”.
[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đồng thời còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Do vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết, giáo dục bị cáo và nâng cao sự cảnh giác của người dân trong việc tự quản lý tài sản.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là“Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra tại phiên tòa người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên”.
[5]. Về hình phạt cần áp dụng: Đánh giá tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có sức khỏe, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài
sản, mục đích phục vụ cá nhân. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự một thời gian nhất định để răn đe riêng và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử vì vậy, được chấp nhận.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 94.300.000đ, sau khi chiếm đoạt đã chi tiêu hết. Trước khi xét xử vụ án, gia đình bị cáo (gồm vợ và chú rể bị cáo là ông Lăng Văn C3) đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại khoản tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), đôi bên đã lập biên bản thỏa thuận bồi thường ngày 27/8/2024. Tại phiên tòa, ông C yêu cầu bị cáo có trách nhiệm hoàn trả số tiền chiếm đoạt còn thiếu 44.300.000₫ (Bốn mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng). Do đó, buộc bị cáo có trách nhiệm trả tiếp cho ông C.
Người liên quan: Anh Lăng Văn C3 xác định số tiền 50 triệu anh và gia đình tự nguyện trả cho bị hại anh không yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả trong vụ án này. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm dân sự giữa bị cáo và anh Lăng Văn C3.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án đều là kinh doanh không hề biết số tiền bị cáo T chiếm đoạt của bị hại dùng để trả nợ và mua nhu yếu phẩm của cửa hàng, hiện vẫn còn nợ nhưng không có ý kiến và yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Về vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, BKS: 20B2-075.95, cũ đã qua sử dụng bị cáo tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Chiếc xe này là tài sản riêng của bị cáo trước khi kết hôn với chị K. Bị cáo đã sử dụng làm phương tiện đi lại thực hiện hành vi phạm tội trong cả 7 lần chiếm đoạt tài sản tại nhà ông C. Xét thấy, bị cáo đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- - Đối với chiếc chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, nhãn hiệu Samsung Glaxy A03, đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT thu giữ do bị cáo T tự giao nộp. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo T xác định điện thoại là của bà Triệu Thị D (là mẹ vợ bị cáo). Do đó, trả lại bà D quản lý sử dụng.
- - Đối với 01 con dao ba có tổng chiều dài 41cm, chuôi dao bằng gỗ, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu Đ1 thu giữ của nhà ông C. Tại phiên
tòa, ông C xác nhận của gia đình đề nghị xin lại, cần thiết trả lại ông C theo quy định;
- - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ2; 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ3 thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.
[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự đối với số tiền phải bồi thường theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11]. Các vấn đề khác:
[11.1]. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản ngày 04/7/2024 của bị cáo T tại nhà bị hại với số tiền 1.015.000 đồng. Do tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng, thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản T chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi trộm cắp tài sản ngày 04/7/2024 do T thực hiện không cấu thành tội phạm, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T đúng theo quy định nên Hội đồng xét xử không đề cập;
[11.2]. Đối với số tiền sau khi chiếm đoạt của ông C, bị cáo T dùng để mua ống sắt tại cửa hàng sắt của chị Nguyễn Thu P1, trả nợ tiền mua hàng cho chị Đỗ Thị L, bà Nguyễn Thị T3, ông Phạm Văn T2 và ông Bùi Ngọc T4. Ngoài ra T còn dùng tiền trộm cắp mà có để mua 01 chiếc điện thoại di động tại một cửa hàng điện thoại và trả nợ một người không quen biết tại khu vực thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra xác định chị P1, chị L, bà T2, ông T2 và ông T4 không nhớ chính xác ngày T đến trả nợ tiền, chỉ xác định được trong khoảng tháng 3/2024 và không biết số tiền T trả nợ là tiền trộm cắp mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với chị P1, chị L, bà T2, ông T2 và ông T4 và những người không quen biết như nêu trên. Việc không xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
2.1.Hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Hứa Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/7/2024
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Hứa Văn T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2.2.Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Hứa Văn T phải bồi thường tiếp cho ông Mai Thế C, sinh năm 1951, trú tại xóm E, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên số tiền 44.300.000₫ (Bằng chữ: Bốn mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Mai Thế C (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
4.1.Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Blade, BKS: 20B2 - 075.95, màu sơn: Đỏ - Trắng – Đen, đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu bên phải.
4.2.Trả lại bà Triệu Thị D 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu S1 A03, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT; Trả lại ông Mai Thế C 01 con dao ba có tổng chiều dài 41cm, chuôi dao bằng gỗ, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu Đ1;
4.3.Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ2; 01 phong bì giấy kích thước (18 x 10,8) cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ3.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 10/9/2024).
- Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hứa Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.215.000₫ (Hai triệu hai trăm mười lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng hai khoản án phí phải chịu là 2.415.000đ (Hai triệu bốn trăm mười lăm ngàn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có mặt bị hại (ông C), có mặt người liên quan (bà S, chị K, anh C3) tại phiên tòa. Báo cho biết bị cáo và những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà D, chị P1, chị L, chị T2, anh T4) tại phiên tòa. Báo cho biết những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, hợp lệ theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 105/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 105/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo trộm cắp tiền để chi tiêu cá nhân
