|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/DS-ST Ngày 20 tháng 9 năm 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng và ông Huỳnh Thanh Trà
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương– Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm: 1971
Nơi ĐKHKTT: số G Hồ T, tổ E, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: K N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Đình K, sinh năm: 1993.
Nơi ĐHKTT và chỗ ở: K đường L, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 5 năm 2024, nguyên đơn trình bày:
Vào cuối năm 2023, qua một người bạn giới thiệu tôi quen biết ông Trần Đình K1. Thời gian này ông K1 thông tin rằng đang đầu tư vào phòng khám phục hồi chức năng mở tại nhà nên đang cần vốn. Vì tin tưởng nên tôi đã cho ông K1 bay 04 lần với tổng số tiền là 60.000.000 đồng, cụ thể:
- - Ngày 16/11/2023, ông K1 vay tôi số tiền 20.000.000 đồng, ví lý do: mua thuốc cho khách. Thời hạn trả: Ông K1 hứa cuối năm 2023 sẽ trả lại tôi số tiền này. Tôi đã đưa tiền mặt cho ông K1.
- - Ngày 23/11/2023, ông K1 tiếp tục vay tôi số tiền 15.000.000 đồng, với lý do mua thuốc cho khách. Thời hạn trả: Ông K1 hứa cuối năm 2023 sẽ trả lại tôi số tiền này. Tôi đã đưa tiền mặt cho ông K1.
Số tiền vay của hai lần này được ông K1 xác nhận đã vay ông C 35.000.000 đồng trong Giấy mượn tiền, ngày 16/11/2023 lập văn bản này sau đó ngày 23/11/2023 viết thêm khoản vay 15.000.000 đồng.
- - Ngày 02/01/2024, ông K1 vay tôi số tiền 10.000.000 đồng, với lý do: em ông K1 bị tai nạn giao thông đang cần tiền gấp. Thời hạn trả: Ông K1 hứa cuối năm 2023 sẽ trả tôi số tiền này.
- - Ngày 23/01/2024, ông K1 vay tôi số tiền 15.000.000 đồng, với lý do mua thuốc cho khách. Thời hạn trả: ông K1 hứa cuối tháng 2 năm 2024 sẽ trả tôi số tiền này.
Từ cuối tháng 2 năm 2024 đến nay là tháng 05/2024 mặc dù tôi đã cố gắng dùng mọi cách để liên lạc với ông K1 như gọi điện, tìm gặp ở nơi làm việc, đến nhà tìm nhưng ông K1 cố tình trốn tránh, lẩn trốn tôi không chịu gặp mặt. Do vậy, tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Đình K phải trả cho tôi số tiền đã vay là 60.000.000 đồng. Tôi không yêu cầu tính lãi suất.
Bị đơn ông Trần Đình K đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng ông Trần Đình K không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn – ông Trần Văn C trình bày: Đối với lần ông Trần Đình K vay số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 02/01/2024 thì tôi chuyển khoản cho ông K số tiền 7.650.000 đồng, số tiền còn lại là 2.350.000 đồng tôi đưa tiền mặt cho ông K; Đối với lần ông Trần Đình K vay số tiền 15.000.000 đồng vào ngày 23/01/2024 thì tôi chuyển khoản cho ông K số tiền 13.500.000 đồng, số tiền còn lại là 1.500.000 đồng tôi đưa tiền mặt cho ông K. Tôi không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc giao nhận tiền nên tôi xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 3.850.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền tôi yêu cầu ông Trần Đình K phải trả cho tôi là 56.150.000 đồng, tôi không yêu cầu tính lãi suất.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu quan điểm xác định Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán thực hiện đầy đủ thủ tục trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 56.150.000 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên không đề cập. Đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Trần Đình K. Tuy nhiên, ông K vắng mặt và không có lý do gì về việc vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai và hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án.
Tại phiên tòa, ông Trần Đình K vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn – ông Trần Đình K.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Trần Văn C và bị đơn ông Trần Đình K là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn quận H, thành phố Đà Nẵng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Tại phiên tòa, ông Trần Văn C xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Trần Đình K về số tiền 3.850.000 đồng. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Tại phiên tòa, ông Trần Văn C yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Đình K phải trả cho ông C số tiền 56.150.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào Giấy mượn tiền ghi ngày 16/11/2023 xác định giữa các bên đã ký kết hợp đồng dân sự về việc vay tài sản với tổng số tiền là 35.000.000 đồng. Trong Giấy mượn tiền này các bên thỏa thuận thời hạn trả là gần Tết âm lịch năm 2023; các bên không thỏa thuận về lãi suất. Ngoài ra, nguyên đơn ông Trần Văn C trình bày, ông có cho ông Trần Đình K vay số tiền 21.150.000 đồng thông qua hai giao dịch chuyển khoản vào các ngày 02/01/2024 và ngày 23/01/2024, ông K hứa cuối tháng 02/2024 sẽ trả lại cho ông Trần Văn C, các bên cũng không thỏa thuận về lãi suất. Đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn, không có lãi suất do các bên tự nguyện giao kết, phù hợp với quy định của pháp luật, những nội dung thỏa thuận khác trong Giấy mượn tiền không vi phạm các quy định của pháp luật nên được bảo vệ và đảm bảo thực hiện. Theo đó, các bên tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ thực hiện các điều khoản đã cam kết.
Sau khi ký Giấy mượn tiền và nhận tiền cho đến nay đã hết thời hạn trả tiền theo cam kết, mặc dù ông C đã nhiều lần nhắc nhở, tìm gặp trực tiếp ông K để yêu cầu ông K trả nợ nhưng ông K lẩn tránh, không gặp mặt. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông Trần Đình K vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà ông Trần Văn C cung cấp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định ông Trần Đình K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là người có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng vay tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C, buộc ông Trần Đình K phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc là 56.150.000 đồng cho ông Trần Văn C..
Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí:
- Vì chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn ông Trần Đình K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.807.500 đồng. Hoàn trả cho ông Trần Văn C số tiền tạm ứng án phí là 1.500.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000354 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ:
- - Các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 227, 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử:
- - Buộc ông Trần Đình K phải trả cho ông Trần Văn C số tiền 56.150.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi sáu triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm là 2.807.500 đồng ông Trần Đình K phải chịu.
- Về quyền kháng cáo:
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Văn C đối với ông Trần Đình K về số tiền 3.850.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" của ông Trần Văn C đối với ông Trần Đình K.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Trần Văn C không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông Trần Văn C số tiền tạm ứng án phí là 1.500.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000354 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Thông |
Bản án số 106/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 106/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ vay tài sản giữ ông Trần Văn Chương và ông Trần Đình Khải
