TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-9-2024
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.
Vào ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Nhật V, sinh năm: 1983;
Địa chỉ: 1 T, khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Trọng D, sinh năm: 1976;
Địa chỉ: 1 T, khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Các đương sự đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Nhật V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Trọng D kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thành phố T. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông D ham chơi cờ bạc, cá cược bóng đá. Bà không đồng ý và phát sinh mâu thuẫn, việc này xảy ra trong thời gian dài và kéo dài cho đến bây giờ; gây ảnh hưởng đến tâm lý của bà và các con, bà không thể tiếp tục cảnh sống này; nên khoảng tháng 11/2023 bà có làm đơn xin ly hôn với ông D và được Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa thụ lý giải quyết. Trong thời gian chờ giải quyết, được hai bên gia đình khuyên can, nên đến tháng 5/2024, bà có đơn xin rút đơn ly hôn và được Tòa án đình chỉ tại quyết định số 37 ngày 03/5/2024. Tuy nhiên, sau đó đến đầu tháng 6/2024 ông D tiếp tục cá độ đá banh và bà không chấp nhận được hành vi nhiều lần không thay đổi của ông D, làm cho tài sản gia đình ngày càng suy kiệt, tinh thần sức khỏe bà giảm. Nay bà yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.
Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Gia K, sinh năm 2007 và Huỳnh Bảo C, sinh năm: 2012; hiện 02 con đang ở với bà. Bà yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nguyên đơn được ly hôn bị đơn. Về con chung: Giao 02 con chung là Huỳnh Gia K và Huỳnh Bảo C cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trương Thị Nhật V và bị đơn ông Huỳnh Trọng D tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thành phố T, Phú Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 07/8/2006, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên đơn đã làm đơn xin ly hôn và được Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa thụ lý vào ngày 19/12/2023, nhưng đến tháng 5/2024, sau khi qua hòa giải nguyên đơn đã có đơn xin rút đơn ly hôn và được Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2024. Tuy nhiên, sau khi rút đơn ly hôn, hai bên tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, không thể khắc phục được như nguyên đơn đã trình bày nên nay nguyên đơn làm đơn xin được ly hôn với bị đơn. Xét thấy: Mâu thuẫn của nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa để giải quyết là bỏ mặc, không muốn hàn gắn cuộc sống hôn nhân nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
[4] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Huỳnh Gia K, sinh ngày 09/01/2007 và Huỳnh Bảo C, sinh ngày 03/8/2012; hiện 02 con đang sống cùng nguyên đơn. Ý kiến của 02 con khi ba mẹ ly hôn là được sống với nguyên đơn. Do đó, ly hôn nguyên đơn xin được nuôi hai con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của các con nên chấp nhận; giao 02 con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng; bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Nhật V.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Nhật V được ly hôn ông Huỳnh Trọng D.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Huỳnh Gia K, sinh ngày 09/01/2007 và Huỳnh Bảo C, sinh ngày 03/8/2012 cho nguyên đơn bà Trương Thị Nhật V trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn ông Huỳnh Trọng D không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung: Không xem xét.
- - Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nguyên đơn bà Trương Thị Nhật V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002656 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp “ly hôn”
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Ly hôn”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn bị đơn
