Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Diệu Oanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Thanh

Ông Phạm Ngọc Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 02/2024/TB-TA ngày 17/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn Đ, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1999 tại huyện H, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn B và con bà Lã Thị N; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không, nhân thân (1): Bản án số 03/2018/HSST ngày 29/01/2018 của Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (Chấp hành xong ngày 29/3/2019); bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay “có mặt".

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn B, sinh năm 1964; địa chỉ: thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình “có mặt”.

- Người làm chứng:

+ Ông Trần Trung Đ1 “vắng mặt”.

+ Ông Tống Văn Q “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn Đ là người sử dụng ma tuý. Khoảng 15 giờ ngày 09/4/2024 do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future mầu đỏ đen mang biển kiểm soát 35B2-049.08 đi từ nhà ở thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình sang khu vực bờ đê sông đáy thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để tìm mua ma tuý. Tại đây, Đ gặp một người nam giới không quen biết hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, người này đồng ý, đưa cho Đ 01 đoạn ống hút nhựa mầu trắng, được hàn kín hai đầu, dài khoảng 03 cm, Đ cầm giấu ở tay trái rồi đưa cho người này số tiền 300.000 đồng, sau đó điều khiển xe tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đi đến đường N, thôn C, xã N, thành phố N thì gặp tổ công tác Công an xã N, thành phố N làm nhiệm vụ, phát hiện Đ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Do sợ bị phát hiện, Đ đã thả 01 đoạn ống hút nhựa mầu trắng xuống mặt đường cạnh vị trí Đ đứng, tổ công tác yêu cầu Đ nhặt lên, giao nộp cho tổ công tác, kiểm tra bên trong có chứa chất tinh thể mầu trắng. Đ khai nhận chất tinh thể mầu trắng là ma tuý đá vừa mua được để về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành thu giữ đoạn ống nhựa mầu trắng, bên trong có chất tinh thể mầu trắng vào phong bì dán kín theo quy định và đưa Đ về trụ sở Công an xã N, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ của Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future mầu đỏ đen mang biển kiểm soát 35B2-049.08

Tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể mầu trắng thu giữ của Đ có khối lượng là 0,335 gam, được cho vào trong túi nilon, ký hiệu M gửi đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 364/KL-KTHS-MT ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3193 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,2482 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKSTPNB ngày 21/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Ngô Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

2

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn Đ đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn B khai: Ông B là bố của Ngô Văn Đ. Chiếc xe máy hiệu Honda Future mầu đỏ đen mang BKS 35B2-049.08 là tài sản của ông B, ông giao xe cho Đ mượn để đi lại, sinh hoạt trong thời gian chưa mua được xe, việc Đ sử dụng xe đi mua ma tuý ông hoàn toàn không biết. Ông B đã được cơ quan công an trả lại chiếc xe máy trên, ông không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Tại các lời khai trong quá trình điều tra, người làm chứng ông Trần Trung Đ1, Tống Văn Q khai: Hồi 17 giờ ngày 09/4/2024, ông Đ1, ông Q thấy có một người nam giới điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Future mầu đỏ đen đi từ trong ngõ ra phía đường N, thôn C, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Khi đi đến khu vực ngã ba đường N thì có cơ quan công an tiến hành kiểm tra, ông tiến lại gần xem thì thấy người nam thanh niên thả từ lòng bàn tay trái xuống dưới đường cạnh vị trí chân đứng 01 đoạn ống hút nhựa mầu trắng được hàn kín hai đầu, dài khoảng 3 cm. Cơ quan công an yêu cầu nam thanh niên nhặt lên để kiểm tra thì người này chấp hành. Tại chỗ người nam thanh niên khai nhận đoạn ống hút nhựa mầu trắng trên là ma tuý đá vừa mua của một người nam giới không quen biết khu vực bờ đê sông Đ để sử dụng cho bản thân. Cơ quan công an tiến hành niêm phong đoạn ống hút nhựa mầu trắng vào phong bì thư dán kín ký hiệu A1. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe máy hiệu Honda Future mầu đỏ đen mang BKS 35B2-049.08.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/4/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: Chất tinh thể mầu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2482 gam, là ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 đoạn ống hút nhựa mầu trắng, phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Ngô Văn Đ trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không có ý kiến

3

tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Ngô Văn Đ đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Ngô Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 17 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ, ngày 09/4/2024 tại đường N, thôn C, xã N, thành phố N; Ngô Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 0,3193 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..."

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

[2] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết

4

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, lành mạnh tại địa phương, tiềm ẩn nguy cơ gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt cũng cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với các vật chứng bao gồm: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2482 gam, là ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; vỏ túi nilon, phong bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future mầu đỏ đen, biển kiểm soát 35B2-049.08, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Ngô Văn B (là bố đẻ của Đ). Ngày 09/4/2024, Đ sử dụng xe mô tô trên đi mua ma túy, ông B không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho ông B là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Ngô Văn Đ khai nhận mua ma tuý của một người nam giới không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm tại khu vực bờ đê sông đáy thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định nên không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

[5] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp, đúng pháp luật.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị tuyên có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

5

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/4/2024.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: Chất tinh thể mầu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2482 gam, là ma túy, loại Methamphetamine toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 đoạn ống hút nhựa mầu trắng, phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Văn Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND TP Ninh Bình (1);
  • - Công an TP Ninh Bình (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP Ninh Bình (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM DIỆU OANH

6

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ, ngày 09/4/2024, Ngô Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 0,3193 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger