|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 106/2023/HS-ST Ngày: 19 - 12 - 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hà
2. Ông Quách Hà Vính
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2023/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đinh Xuân H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02 tháng 04 năm 1998, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Đinh Xuân N; Mẹ: Bùi Thị N1; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/06/2023 đến ngày 30/6/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.
- Họ và tên: Hoàng Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05 tháng 9 năm 1999, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Hoàng Văn T – Sinh năm 1972; Mẹ: Nguyễn Thị L - Sinh năm 1975; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 30/6/2020 Hoàng Văn S bị Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 24/5/2022; Bị tạm giữ từ ngày 21/06/2023 đến ngày 30/6/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 20/6/2023, Tổ công tác của Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đang tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Khi Tổ công tác vào nhà của Hoàng Văn S sinh năm 1999 trú tại thôn T, xã T để nhắc nhở về an ninh trật tự, lúc này có Hoàng Văn S đang ở nhà và Đinh Xuân H sinh năm 1998, trú thôn B, xã T, khi thấy Tổ công tác đến Sao ném đồ vật từ lòng bàn tay ra vườn. Tổ công tác đã yêu cầu Sao ra xác định đồ vật vừa ném là 01 gói giấy màu vàng (dạng giấy trong bao thuốc lá) bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma tuý). Tại chỗ Hoàng Văn S khai nhận đây là ma tuý loại Heroine, đây là gói ma tuý của H và S vừa mua được tại thị trấn N, tỉnh Ninh Bình đem về với mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 2027/KL-KTHS ngày 26/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,267g (Không phẩy hai sáu bảy gam) loại: Heroine.
Tại Cơ quan điều tra Đinh Xuân H và Hoàng Văn S khai nhận: Vào khoảng 20 giờ, ngày 20/06/2023 khi Hoàng Văn S đang ở nhà tại thôn T, xã T, huyện T, thì Đinh Xuân H đến rủ S cùng nhau đi tìm mua ma tuý về để sử dụng, bản thân là người nghiện, đang có nhu cầu sử dụng nên Sao đã đồng ý. Sau đó S sử dụng điện thoại của H gắn số 0877.272.xxx gọi vào số máy 0355.533.305 để gọi hỏi mua ma tuý từ một người đàn ông ở thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình thì được người này đồng ý. Hoàng Văn S sử dụng xe máy nhãn hiệu HONDA Waves biển kiểm soát 36E1-149.35 của Đinh Xuân H chở H sang thị trấn N, huyện N, để đi mua ma tuý. Khi đến thị trấn N, huyện N thì H xuống xe đứng đợi, đồng thời đưa cho S số tiền 500.000 đồng để mua ma tuý. Sao cầm tiền và lấy điện thoại của H ra tiếp tục gọi điện thoại cho người đàn ông và hẹn địa điểm mua bán ma tuý. Một lúc sau có một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể đến và bán cho Sao 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được số ma tuý trên Sao cất giấu vào người và quay lại đón H trở về nhà của Sao tại thôn T, xã T, huyện T để cùng nhau sử dụng ma tuý, khi vừa về đến nhà thì bị Tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt giữ.
Đối với nguồn gốc ma tuý mà Hoàng Văn S và Đinh Xuân H bị phát hiện khi ném ra phía sau vườn là mua của một người đàn ông không xác định được cụ thể tên thật, tuổi và địa chỉ cụ thể tại khu vực tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Hoàng Văn S khai nhận do người bán ma tuý đeo khẩu trang và lần đầu gặp nên Sao không cung cấp được đặc điểm, nhân thân của người này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ.
Đối với số thuê bao 0877.272.252 của Đinh Xuân H đã đưa cho Hoàng Văn S sử dụng để liên lạc mua ma tuý. Qua tra cứu chủ thuê bao là Bùi Văn V sinh năm 1987, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ số thuê bao trên là của V mua để sử dụng được đăng ký bằng thông tin của V, tuy nhiên quá trình sử dụng Vĩnh đã làm mất số thuê bao trên. Quá trình điều tra xác định V không liên quan đến vụ án, vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Bùi Văn V.
Đối với số thuê bao 0355.533.305 do Hoàng Văn S liên lạc để mua ma tuý, qua xác minh làm rõ chủ thuê bao mang tên Nguyễn Văn C sinh năm 1986, trú tại phố P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Quá trình xác minh C khai nhận số thuê bao trên là của C. Vào khoảng cuối tháng 5/2023 quá trình đi làm tại thị trấn N, huyện N thì C làm rơi điện thoại bên trong có số thuê bao nói trên. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn C không liên quan đến vụ án, nên không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn C. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra đối với số thuê bao 0355.533.305 và C xử lý khi có đủ căn cứ.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định hiện tại các bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S không có tài sản và thu nhập.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ: Sau giám định Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định, gồm: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,099g (Không phẩy không chín chín gam) chất bột màu trắng. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Phạm Thanh H1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, tình trạng đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0877.272.252; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Waves, màu đen BKS: 36E1-149.35, tình trạng đã qua sử dụng;
Quá trình điều tra xác định, xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu HONDA WaveS, màu đen BKS: 36E1-149.35 là tài sản hợp pháp của ông Đinh Xuân N sinh năm 1963, trú tại thôn B, xã T là bố đẻ của Đinh Xuân H, việc H mượn xe, sử dụng đi mua ma tuý ông N không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Đinh Xuân N là phù hợp.
Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKSTT, ngày 27/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự (Sau đây được viết tắt là BLHS)
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS đối với bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S. Đề nghị mức hình phạt với bị cáo H và bị cáo S mỗi bị cáo từ 20 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập của các bị cáo xác định hiện tại các bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập và tài sản nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đới với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,099g (Không phẩy không chín chín gam) chất bột màu trắng. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Phạm Thanh H1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T là vật nhà nước cấm lưu hành; Đề nghị tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, tình trạng đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0877.272.252 là vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo; Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để nhanh về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chứng minh: Vào khoảng 22 giờ, ngày 20/6/2023, Tổ công tác của Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đang tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Khi Tổ công tác vào nhà của Hoàng Văn S sinh năm 1999 trú tại thôn T, xã T để nhắc nhở về an ninh trật tự, lúc này có Hoàng Văn S đang ở nhà và Đinh Xuân H sinh năm 1998, trú thôn B, xã T, khi thấy Tổ công tác đến Sao ném đồ vật từ lòng bàn tay ra vườn. Tổ công tác đã yêu cầu Sao ra xác định đồ vật vừa ném là 01 gói giấy màu vàng (dạng giấy trong bao thuốc lá) bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma tuý). Tại chỗ Hoàng Văn S khai nhận đây là ma tuý Heroine, đây là gói ma tuý của H và S vừa mua được tại thị trấn N, tỉnh Ninh Bình đem về với mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Tại bản kết luận giám định số 2027/KL-KTHS ngày 26/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,267gam (Không phẩy hai sáu bảy gam) loại: Heroine. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. VKS truy tố các bị cáo trên là hoàn toàn có cơ sở đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, vai trò và trách nhiệm hình sự của các bị cáo vụ án: Đây là vụ án hình sự tàng trữ trái phép chất ma túy có tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo thực hiện. Trong đó bị cáo Đinh Xuân H là người khởi xướng đưa tiền cho bị cáo S đi mua ma túy, các bị cáo có cùng mục đích thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò ngang nhau và trách nhiệm hình sự như nhau. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác nhưng vẫn phạm tội. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo phải được xử lý nghiêm và xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; các bị cáo có 01 (một) tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
[5]. Kết quả điều tra, xác minh các bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho S, bị cáo khai mua của người đàn ông ở thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình khi mua do người bán ma tuý đeo khẩu trang và lần đầu gặp nên Sao không cung cấp được đặc điểm, nhân thân của người này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng là: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,099g (Không phẩy không chín chín gam) chất bột màu trắng là heroine. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Phạm Thanh H1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, tình trạng đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0877.272.252 là vật liên quan đến hành vi phạm tội thu của các bị cáo cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8]. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS đối với các bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Xuân H 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính 21/06/2023.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn S 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính 21/06/2023.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 47BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,099g (Không phẩy không chín chín gam) chất bột màu trắng là hê rô in. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Phạm Thanh H1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động loại bàn phím, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, tình trạng đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0877.272.252
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
Về án phí: Bị cáo Đinh Xuân H và Hoàng Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
Bản án số 106/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 106/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
